VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Bữa tiệc nông cụ
Get Well soon
Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ.
Bài 81 - Kế hoạch giải cứu tài chính của (Tổng thống) Obama
Doremon chế - "Mong ước kỷ niệm xưa"
Nhân tài và Cân
Số lượt truy cập
4234369
Số người đang xem
36


VĂN HOÁ > Thời đại @ > Quản lý @ >


Từ bài văn tả cây hồng
Từ nhiều năm nay, vấn đề giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, từ các nhà hoạch định chính sách phát triển vĩ mô đến mọi tầng lớp nhân dân. Một câu hỏi được đặt ra và được tranh luận sôi nổi tại các hội thảo giáo dục chuyên ngành và cả trên các phương tiện thông tin đại chúng là: Tại sao hiện nay, khi đời sống ngày một tốt hơn, điều kiện vật chất dành cho học tập và tiếp cận  thông tin ngày một hoàn thiện hơn, học sinh của chúng ta lại mất dần đi khả năng tự học, để đến nỗi các lớp học thêm, các lò luyện thi trở thành một dịch vụ thiết yếu trong đời sống hàng ngày?

Nhớ lại những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc và ngay cả những năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất, mặc dù ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm nhưng học sinh phổ thông và sinh viên đại học ngoài giờ lên lớp vẫn say sưa chuyền tay nhau đọc những tài liệu tham khảo in roneo nhàu nát, say sưa cùng nhau giải và nghiên cứu những bài toán hay cắt ra từ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ... Thuở ấy, làm gì có những trung tâm ngoại ngữ nhan nhản khắp nơi như hiện nay, làm gì có máy tính, có internet và thư viện của các trường đại học lớn lúc đó cũng chỉ có một số ít tài liệu tham khảo bằng tiếng Nga và tiếng Anh, nhưng đội ngũ kỹ sư và cán bộ được đào tạo ra thực sự có chất lượng, rất năng động và sáng tạo. Số người có thể độc lập làm việc với tài liệu tiếng Nga, tiếng Anh lúc đó cũng không phải là “của hiếm”. Có lẽ cái sự khác nhau giữa xưa và nay nằm trong cái cách học và cách dạy học.

Tôi có chị bạn, hồi học phổ thông từng được giải học sinh giỏi văn lớp 10 toàn miền Bắc (khi ấy đất nước chưa thống nhất nên các kỳ thi học sinh giỏi miền Bắc là cấp cao nhất), vào đại học lại theo chuyên ngành khoa học tự nhiên, hiện công tác tại một viện nghiên cứu. Vốn quen tự học và độc lập suy nghĩ, chị rất bực mình khi thấy cậu con trai học lớp 4 làm văn cứ nhất nhất dựa theo dàn bài chi tiết của cô giáo.  Một lần thấy cháu đánh vật với đầu bài “Tả cây hồng trong vườn nhà em”, chị dẫn cháu ra mảnh sân nhỏ trước nhà có khóm hoa hồng, cùng cháu quan sát thân cây, lá cây, quan sát những bông hoa nở và những nụ hoa còn e ấp. Hai mẹ con làm được một bài văn dài hơn 2 trang giấy học trò (mà chị tự đánh giá là hay, ít ra cũng được điểm 8). Khi chị đang phấn khởi thì cậu con kêu lên: “Mẹ ơi, thiếu rồi, thiếu ong, bướm đến hút mật, vờn hoa”. Chị ngạc nhiên: “Nhưng mẹ con mình có thấy con ong hay bướm nào đến cây hồng nhà mình đâu?“. “Cô giáo bảo nhất định phải tả ong, bướm thì mới đủ ý”. Chị ra sức giải thích cho con rằng đấy chỉ là một chi tiết không nhất thiết phải có, rằng cái chính là phải biết tả cây hồng với những quan sát và tình cảm của riêng mình, ... Càng nói chị càng bực mình và đôi chút tự ái (chả lẽ một cựu học sinh giỏi Văn suốt những năm phổ thông lại không biết làm bài văn tả cây hồng?) khiến chú bé đành nghe lời mẹ với đôi chút lo lắng. Quả nhiên, nỗi lo lắng ấy là có lý: vài hôm sau chú phụng phịu đưa cho mẹ bài văn với lời phê “ 8 - 2 = 6 vì thiếu ong bướm”. Từ đó chú kiên quyết không chịu nghe mẹ “đi thực tế” khi làm văn nữa mà chỉ chăm chăm theo đúng dàn bài chi tiết với lý do: “Các bạn con làm bài theo dàn bài của cô đều được 8 và 9 cả”.

Tuy vậy, chị bạn tôi vẫn kiên trì dạy con trai tự học: chị cùng cháu đi các hiệu sách tìm chọn mua sách tham khảo; giúp cháu biết cách đọc sách và tự giải các bài toán, lý, hoá khó... Kết quả là cấp 3 cháu thi đỗ vào lớp chuyên và trong suốt quá trình học cháu không cần theo một lớp học thêm nào vẫn thi đỗ 2 trường đại học kỹ thuật. Chúng tôi ai cũng phục và mừng cho chị. Mới học năm thứ 2, cháu đã chủ động đến gặp các thầy cô xin vào phòng thí nghiệm để làm quen với thực tế, rất chăm đi thư viện tìm đọc sách tham khảo, tìm thông tin trên mạng và đọc sách chuyên ngành bằng tiếng Anh. Nhưng vừa rồi gặp nhau, chị kể: Thằng cu thi môn lịch sử Đảng, tham khảo sách của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và bị thi lại (điểm 4/ 10). Không tin bài làm của mình kém đến như vậy, cu cậu đi hỏi tụi bạn được điểm 7, 8 mới té ngửa ra là các bạn toàn chép nguyên xi bài giảng của thầy cô trên lớp (“thảo nào mà mấy môn học Mác - Lê năm thứ nhất con toàn 5 điểm, còn may là chưa thi lại”). Cu cậu nhớ lại bài văn tả cây hồng hồi nhỏ và “rút kinh nghiệm”: “Khi làm bài thi chớ có “dại” mà tham khảo sách nọ sách kia làm gì”. Đúng là chuyện cười ... buồn.

Kể câu chuyện “cây hồng ”, tôi muốn nói rằng không phải học sinh ta bây giờ không biết tự học, không có mong muốn tự học. Có thể nói hầu hết các em học sinh đều ham học, đều thích tham khảo nhiều sách vở tài liệu và biết tự trang bị thêm cho mình những kiến thức bổ sung cho chương trình giảng dạy của nhà trường nếu được các thầy cô khơi dạy lòng ham hiểu biết của các em, tôn trọng sự sáng tạo và tính độc lập cá nhân của các em khi học và làm bài. Chính vì thế các em học sinh lớp chuyên (được đào tạo cách tự học khác hẳn với phổ thông) nếu được tiếp tục học ở những môi trường giảng dạy đại học tốt thường sẽ phát huy được khả năng của mình và khi ra đời hầu hết đều có thể đáp ứng được đòi hỏi của thực tế. Tuy nhiên, bây giờ không những ở các cấp học phổ thông, thầy giáo làm thui chột tư duy độc lập suy nghĩ của học sinh mà cả ở cấp đại học cũng đã trở thành “phổ thông cấp IV”: các thầy giáo chỉ lên lớp đảm bảo giáo trình, không cần biết học sinh ở dưới nghĩ gì và khi thi thì chỉ cần chép nguyên xi bài giảng của thầy là được điểm  tốt (có khác gì làm theo dàn bài chi tiết tập làm văn của học sinh cấp I!).

Tôi có dịp đến một số thư viện chuyên ngành của các trường đại học ở Hà Nội, mới thấy việc giao lưu với quốc tế đã đem lại hiệu qủa to lớn thế nào: đủ các thể loại sách giáo khoa, sách chuyên khảo, kỷ yếu báo cáo tại các Hội nghị khoa học bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp; thích nhất là có cả những số tạp chí khoa học mới nhất. Chả bù cho hồi đầu những năm 70, lứa sinh viên Đại học chúng tôi chỉ có trong tay những tạp chí tóm tắt, các tạp chí chuyên ngành hầu như không có, được một vài đầu tạp chí thì cũng đến chậm hàng năm và lại không trọn bộ. Hồi ấy, khi chúng tôi vào học kỳ II năm thứ 3, các thầy đã dẫn vào thư viện, tận tình hướng dẫn cách tra cứu tìm sách tham khảo và khuyến khích đọc thêm các tài liệu ngoài chương trình. Còn bây giờ, nhân viên thư viện nói với tôi, các tài liệu tiếng nước ngoài hiếm khi được sinh viên sờ đến, sinh viên đến thư viện chỉ để đọc luận án tốt nghiệp của các năm trước. Một sinh viên trường đại học thuộc khối kinh tế kể: các thày ở trường bận lắm, tham gia nhiều đề tài, dự án nên đi suốt, chẳng có thời giờ xem xét sinh viên làm gì, và cũng chẳng nhớ đã có những đề tài nào được bảo vệ, vì vậy có chép luận án của các năm trước thầy cũng chẳng biết, tội gì mà phải mất công tìm tài liệu, đặt mục tiêu rồi suy nghĩ giải quyết cho mệt óc.

Thêm vào đó, các bậc phụ huynh cũng vô tình phối hợp cùng với các nhà sư phạm “giết chết” khả năng tự học của con em bằng cách ngay từ lớp 1 đã nhét các em vào các lớp học thêm. Tất cả các bài toán, bài văn ... đều được quy về các bài mẫu, chỉ cần thuộc và quen dạng là giải được, chả cần suy nghĩ nhiều làm gì (mà cũng chả lấy đâu thì giờ để suy nghĩ khi suốt từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều các em phải ngồi trong lớp học các bài mẫu đó). Kỳ lạ nữa là ngay cả các bậc phụ huynh có học vị tiến sĩ hay kỹ sư cũng sẵn sàng phó mặc những mầm non của mình cho các thầy cô giáo và luôn từ chối giúp con giảng một bài tập (dù chỉ ở bậc học phổ thông cơ sở và trung học cơ sở) với lý do: bọn trẻ bây giờ học kiến thức cao lắm, mình không hiểu nổi (???). Đến cha mẹ còn ngại suy nghĩ, thì làm sao đòi hỏi trẻ con phải tự học.

Có vẻ như thói quen làm theo bài mẫu (do các thầy cô giáo đề xuất và được cha mẹ trợ giúp đắc lực) đã giúp xã hội hình thành một “Mẫu công nghệ đào tạo chuẩn” các công dân tương lai: Mẫu giáo - Phổ thông cơ sở + học thêm lớp của cô; Trung học cơ sở + học thêm các thầy cô giáo có tiếng; Phổ thông trung học + học thêm tại các lò luyện thi; Đại học + học thêm ở trung tâm ngoại ngữ, vi tính. “Mẫu công nghệ đào tạo chuẩn” này được chấp nhận đến mức có vẻ như tất cả các bậc phụ huynh đều tin rằng cứ việc nhét một cô bé hay cậu bé 3 tuổi vào đầu này ắt là sau 20 năm sẽ có được một con người hoàn hảo ở đầu kia.

Chính vì cái “Công nghệ đào tạo chuẩn” với các cách học tủ, học mẫu nên chúng ta có quá nhiều sinh viên đại học bị hổng kiến thức cơ bản đến mức không thể tưởng tượng nổi các em đã làm thế nào để vượt qua được kỳ thi tuyển đại học nhiều khi phải nói là quá khó; mới có chuyện các công ty nước ngoài dù rất muốn tuyển người bản địa cũng lắc đầu chán nản trước những ứng viên với vài ba bằng đại học, bằng ngoại ngữ, vi tính nhưng không thể vượt qua được vòng phỏng vấn với những câu hỏi giải quyết tình huống chẳng có gì quá phức tạp nhưng lại không có trong các loại “tủ”, loại “mẫu” mà họ đã học.

Để kết thúc, tôi xin kể thêm một câu chuyện: cháu tôi, sau thời gian (vài năm) làm hợp đồng tại một viện nghiên cứu trực thuộc Bộ nọ được dự kỳ thi tuyển công chức. Đề cương ôn thi có một số câu hỏi về các văn bản pháp quy liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Bộ. Để yên tâm là mình sẽ có đủ kiến thức vượt qua kỳ thi này, cháu tôi chạy đôn chạy đáo xin được vào .... một lớp học thêm. Xin miễn bình luận.
 
Pi C&E - Tạp chí Tia Sáng (8/2002)
Bình luận
Thứ ba, ngày 21/11/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Thời đại @
Bản chất @
Quản lý @
Kỹ năng @
Ý tưởng @
Sức mạnh @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait