VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Nên bắt đầu học bơi thế nào? (2 phút)
Мне Нравится
Bài dịch 12 - Số người chết vì tai nạn giao thông thấp nhất kế từ năm 1994
Con cái như mũi tên bắn đi từ Tình yêu của chúng ta
Có thực dân ta hiếu học?
Lồng ghép "Mua sắm xanh" vào chương trình dán nhãn sinh thái
Số lượt truy cập
4175799
Số người đang xem
79


VĂN HOÁ > TaLaWho? - Ta là Tao! > Đãi chữ - Đãi sách >


Phản tác dụng của lời khen (2)

có hiệu quả.” Nhận xét của Downey đại diện cho phát biểu của những học giả khác trong ngành. Ts Mahzarin Banaji, một nhà tâm lý xã hội học ở ĐH Harvard,  một chuyên gia về vấn đề “vơ đũa cả nắm” nói với tôi “Carole Dweck thật là thiên tài. Tôi hy vọng người ta đánh giá nghiêm túc công trình này. Nó làm người ta sợ khi thấy các kết quả tìm được.”


Từ khi có bài báo xuất bản năm 1969 có tựa đề Tâm lý học về lòng tự tôn của Nathaniel Braden, mà trong đó ông đưa ra nhận định rằng lòng tự tôn là mặt quan trọng nhất của một con người, niềm tin rằng bạn phải làm bất cứ điều gì để có một lòng tự tôn cao đã trở thành một phong trào có tác động rộng lớn về mặt xã hội. Bất kỳ thứ gì có thể làm tổn hại đến lòng tự tôn của một đứa trẻ đều bị phê phán kịch liệt. Người ta phê phán sự cạnh tranh. Các huấn luyện viên bóng đá
thôi đếm bàn thắng và tặng thưởng như nhau cho tất cả thành viên trong đội. GV quẳng bút đỏ vào sọt rác. Sự phê phán được thay bằng những lời khen tràn lan, cho dù chẳng có cơ sở.

Công trình của Dweck và Blackwell là một phần của nhóm học giả đối đầu với những nguyên lý nòng cốt của phong trào lòng tự tôn: rằng lời khen, lòng tự tôn và kết quả học tập và công tác sẽ đi lên hoặc xuống dốc cùng nhau. Từ năm 1970 đến 2000, có hơn 15000 bài báo khoa học về lòng tự tôn và mối quan hệ của nó đến mọi thứ - từ quan hệ tình dục đến sự thăng tiến nghề nghiệp. Nhưng kết quả thường là mâu thuẫn hoặc không có tính thuyết phục. Vì thế vào năm 2003 Hiệp hội Khoa học Tâm lý Mỹ yêu cầu Ts Roy Baumeister, một nhà khoa học hàng đầu của nhóm lòng tự tôn, đánh giá lại các nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu của ông kết luận có rất nhiều nghiên cứu về lòng tự tôn không đáp ứng yêu cầu khoa học. Chỉ 200 trong số 15000 bài báo đó đáp ứng các tiêu chuẩn chặt chẽ. Cách lập luận của một đứa trẻ là: tôi thông minh. Tôi không cần cố gắng. Cố gắng trở nên bị xem thường – nó là một bằng chứng cho mọi người thấy bạn không làm được điều gì dựa vào tài năng thiên bẩm của mình.

Sau khi đánh giá 200 nghiên cứu đạt chuẩn đó, Baumeister đưa ra kết luận rằng lòng tự tôn chẳng giúp gì trong việc học tốt hơn hay thăng tiến nghề nghiệp. Nó thậm chí chẳng giúp giảm việc uống rượu. Và nó cũng chẳng giúp làm giảm bạo lực (Những người nóng tính và bạo lực hóa ra lại là những người có lòng tự tôn cao, và điều này đánh đổ giả định là người ta trở nên bạo lực để bù đắp cho sự thiếu lòng tự tôn). Vào thời điểm đó phóng viên trích lời của Baumeister rằng
những phát hiện này là “sự thất vọng lớn nhất trong sự nghiệp của tôi”.

Bây giờ thì ông theo phe của Dweck và hướng nghiên cứu của ông cũng theo hướng nghiên cứu của bà: sắp tới ông sẽ xuất bản một bài báo cho thấy đối với những sinh viên có nguy cơ thi lại, những lời khen nhằm nâng cao lòng tự tôn sẽ khiến kết quả học tập của họ tệ hơn trước. Baumeister đã bắt đầu tin rằng sự hấp dẫn của thuyết lòng tự tôn vẫn đang tồn tại gắn chặt với lòng tự hào của cha mẹ về sự thành công của con cái mình: Nó trở nên mạnh mẽ đến mức “khi khen con cái mình, thực ra là họ khen chính bản thân họ.”

Nhìn chung thì các công trình nghiên cứu về lời khen đều cho thấy nó có thể có hiệu lực – một động lực tích cực. Trong một nghiên cứu của các nhà khoa học ở ĐH Notre Dame, người ta kiểm tra hiệu quả của lời khuyên cho một đội bóng khúc côn cầu đang chơi rất tệ. Thí nghiệm đã thành công như ý muốn: Đội bóng rốt cục đã vào vòng play-off. Nhưng
các lời khuyên không có tác dụng như nhau. Và như Dweck đã chứng minh, tác dụng của lời khuyên thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào lời khuyên nào. Các nhà khoa học phát hiện, để có hiệu lực, lời khuyên phải cụ thể (các cầu thủ khúc côn cầu ở đội bóng này được khen ngợi về số lần họ chặn được đối phương ghi bàn.)

Sự chân thành của lời khen cũng rất quan trọng. Cũng như khi ta cảm thấy được ý đồ của một lời khen nửa đùa nửa thật hay một lời xin lỗi không thành thực, trẻ con cũng ‘soi’ kỹ lời khuyên xem có ý đồ gì sau đó không. Chỉ những đứa trẻ nhỏ, dưới 7 tuổi, mới cho mọi lời khen là thực: những đứa trẻ lớn hơn đều có óc hoài nghi như người lớn vậy.

Nhà tâm lý học Wulf-Uwe Meyer, một nhà tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu lời khen, thực hiện một loạt các nghiên cứu trong đó bọn trẻ được xem bọn trẻ khác được khen. Theo kết quả của Meyer, ở độ tuổi 12 trở đi, bọn trẻ bắt đầu tin rằng được GV khen không phải là một dấu hiệu cho thấy mình học tốt – thực ra nó là một dấu hiệu về sự thiếu năng lực và GV nghĩ là chúng cần thêm sự khích lệ. Và Meyer còn phát hiện ra rằng bọn trẻ vị thành niên coi thường lời khen đến
mức chúng cho đó là sự phê bình của GV về năng lực của chúng chứ không phải khen thực sự.

Theo ý kiến của nhà tâm lý học về nhận thức, Dainel T. Willingham, khi một GV khen một học sinh, họ đã vô tình ngầm nhắn nhủ rằng em học sinh này đã đạt đến giới hạn về năng lực bẩm sinh của mình, trong khi một giáo viên phê bình một học sinh sẽ nhắn nhủ cho học sinh này rằng nó vẫn còn có thể cải thiện kết quả học tập của mình.

Giáo sư tâm thần học ở ĐH New York, Judith Brook giải thích rằng vấn đề của các bậc cha mẹ ở đây là sự thành thật. “Khen ngợi rất quan trọng, nhưng không phải là khen sáo rỗng. Nó phải dựa trên những điều có thật – kỹ năng hay tài năng nào đó mà bọn trẻ có.”, bà nói. 

Một khi bọn trẻ nghe những lời khen mà chúng nghĩ là không có cơ sở, chúng sẽ coi thường không chỉ những lời khen giả tạo mà cả những lời khen chân thành. 

Các học giả ở ĐH Reed và Stanford đánh giá hơn 150 nghiên cứu về sự khen ngợi. Phân tích tổng hợp các nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng những học sinh được khen ngợi trở nên sợ mạo hiểm và thiếu ý thức tự chủ. Các học giả tìm thấy mối tương quan chặt chẽ giữa việc khen ngợi bừa bãi và các thái độ của học sinh như “thiếu sự kiên trì khi giải bài tập, hay nhìn GV để thăm dò thái độ và sự xuống giọng khi trả lời khiến một câu trả lời giống một câu hỏi hơn.”

Nghiên cứu của Dweck về những đứa trẻ được khen quá lời chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng ở những đứa trẻ này hình ảnh mình trong mắt người khác là mối quan tâm chính của chúng – chúng ganh đua nhiều hơn và thích hạ thấp người khác. Nhiều nghiên cứu đáng báo động cho thấy điều này.

Ở một nghiên cứu, học sinh được cho làm hai bài kiểm tra. Trước khi làm bài kiểm tra thứ hai chúng được cho cơ hội lựa chọn giữa việc học cách làm bài để chuẩn bị cho bài kiểm tra thứ hai và biết điểm và vị thứ của mình trong bài kiểm tra đầu tiên: chỉ đủ thời gian cho chúng để làm một trong hai lựa chọn trên. Những học sinh được khen thông minh thường chọn biết điểm và vị thứ thay vì dùng thời gian để chuẩn bị cho bài kiểm tra kế tiếp.

Trong một nghiên cứu khác, học sinh được yêu cầu tự điền kết quả học tập của chúng vào một phiếu báo cáo và được cho biết là các phiếu này sẽ được gửi đến các học sinh của một trường học khác – và rằng chúng sẽ không bao giờ gặp và biết tên của những học sinh này. Trong số những đứa trẻ được khen thông minh 40% đã nói dối bằng cách nâng khống điểm của mình. Trong số những đứa trẻ được khen vì sự cố gắng, rất ít nói dối về điểm của mình.

Khi học sinh chuyển sang giai đoạn phổ thông trung học, một số học sinh học giỏi ở cấp I sẽ không tránh khỏi vất vả trong học hành ở một môi trường học tập lớn hơn và yêu cầu cao hơn. Những học sinh xem sự thành công trước đó của chúng là do trí thông minh bẩm sinh sẽ cho rằng chúng vốn đã dốt sẵn rồi. Điểm số của chúng sẽ không bao giờ được như trước bởi chìa khóa để có được sự thành công như trước  – cố gắng nhiều hơn – sẽ được xem là một bằng chứng nữa của sự thất bại. Trong các cuộc phỏng vấn, nhiều học sinh này thú nhận “rất có thể sẽ gian dối trong thi cử.”

Học sinh trở nên gian dối trong thi cử bởi vì chúng chưa hình thành được phương pháp để đối phó với thất bại. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp khi phụ huynh phớt lờ sự thất bại của con cái mình và tự thuyết phục rằng bọn trẻ sẽ học tốt hơn trong tương lai. Một học giả ở Michigan, Jennifer Crocker đã nghiên cứu về tình huống giống hệt như thế này và giải thích rằng đứa trẻ có thể bắt đầu tin rằng thất bại là một cái gì đó khủng khiếp, và gia đình nó không thể chấp nhận điều đó. Đứa trẻ này đã bị lấy mất cơ hội để nói về những lỗi lầm của chúng để có thể rút kinh nghiệm.

Con trai của tôi, Luke, đang đi học nhà trẻ. Nó có vẻ rất nhạy cảm với những đánh giá của bạn bè. Luke biện minh cho điều này bằng cách thú nhận “Con nhát lắm”. Nhưng nó không thực sự nhút nhát. Nó không cảm thấy sợ khi ở một thành phố lạ, hay khi nói chuyện với người lạ. Nó cũng đã từng hát trước một đám đông lớn. Tôi lại cho rằng nó kiêu hãnh và nhạy cảm về bản than. Trường học của nó mang đồng phục rất đơn giản (áo pull và quần thủy thủ). Nó thích thú vì quần áo mà nó chọn sẽ không bị trêu chọc, “vì nếu mà chúng nó trêu con thì chúng nó cũng tự trêu chúng nó.”

Sau khi đọc nghiên cứu của Carol Dweck tôi bắt đầu thay đổi cách khen nó, nhưng không hoàn toàn triệt để. Tôi cho rằng sự chần chừ của tôi là do cách nghĩ mà Dweck muốn các học sinh hình thành – niềm tin vững chắc rằng việc đứng lên từ sự thất bại là cố gắng nhiều hơn – nghe quá sáo mòn.

Nhưng hóa ra khả phản ứng với thất bại nhiều lần bằng cách cố gắng nhiều hơn thay vì bỏ cuộc là một đặc tính của con người được nghiên cứu rất kỹ trong ngành tâm lý học. Những người có tính cách này, tính kiên trì, đứng lên rất nhanh khi vấp ngã và có thể duy trì động lực phấn đấu trong một thời gian dài khi phần thưởng chưa đến kịp. 

Tìm hiểu thêm về lĩnh vực nghiên cứu này tôi mới biết rằng tính kiên trì hóa ra là không chỉ là hành động có ý thức của ý chí; nó cũng là một phản ứng vô thức, bị chi phối bởi một mạng lưới thần kinh trong bộ não chúng ta. Ts Robert Cloninger ở ĐH Washington St Louis đã định vị được mạng lưới này ở vùng của bộ não gọi là vỏ não trán giữa và vỏ não trán hốc mắt. Nó giám sát vùng tưởng thưởng của não bộ, và giống như một công tắc, nó sẽ hoạt động mỗi khi sự tưởng thưởng không đến tức thì. Khi bật nó sẽ nói với bộ não “Đừng bỏ cuộc. Sắp có dopamine (một hợp chất hóa học của não bộ, xuất hiện khi ta cảm thấy vui vẻ vì mới thành công) đó. Khi quan sát các bệnh nhân dưới máy scan MRI, Cloninger có thể thấy công tắc này bật lên thường xuyên ở một số người, trong khi đó ở một số khác hầu như không bao giờ bật.

Điều gì khiến một số người có mạng lưới này hoạt động?

Cloninger đã huấn luyện tính kiên trì cho chuột nuôi trong một mê cung bằng cách khéo léo không tặng thưởng cho chúng khi chúng về đích. “Chìa khóa ở đây là củng cố tinh thần này một cách ngắt quãng”. Bộ não phải nhận ra rằng có thể vượt qua để hoàn thành những công việc khó khăn. “Một người khi lớn lên được khen thưởng quá thường xuyên sẽ thiếu đi tính kiên trì, bởi vì họ sẽ bỏ cuộc khi phần thưởng biến mất.”

Giờ thì tôi hoàn toàn tin vào nghiên cứu này. Tôi từng nghĩ “nghiện lời khen” chỉ là một câu cửa miệng – nhưng đột nhiên tôi nhận thấy dường như tôi đang cài đặt cho bộ não của con tôi khiến nó có nhu cầu được khen thưởng thường xuyên.

Vậy thì điều này có ý nghĩa gì, thôi không khen ngợi con bạn quá thường xuyên nữa? Uhm, nếu lấy tôi làm ví dụ thì có những giai đoạn ngừng khen ngợi khác nhau, mà độ khác nhau rất nhỏ. Ở giai đoạn đầu tôi khó mà từ bỏ khen ngợi được ngay lập tức khi cha mẹ của những đứa trẻ khác vẫn tiếp tục khen ngợi con cái họ thường xuyên. Tôi không muốn thằng Luke nhà tôi cảm thấy bị bỏ rơi. Tôi cảm thấy mình giống như người quyết tâm bỏ rượu giờ phải uống vì xã giao. Tôi trở thành người khen xã giao.

Sau đó tôi thử dùng lời khen cụ thể mà Dweck khuyến nghị. Tôi khen thằng Luke, nhưng cố gắng khen “quá trình” của nó. Cái này nói thì dễ mà làm mới khó. Những quá trình gì đang xảy ra trong đầu một đứa bé 5 tuổi? Ấn tượng của tôi là 80% não bộ của nó sẽ tưởng tượng về những kịch bản dài lê thê về các con búp bê của nó.

Nhưng hàng đêm nó phải làm bài tập Toán và phải đọc thành lời một cuốn sách tập phát âm. Mỗi nhiệm vụ này chỉ mất có 5 phút nếu nó tập trung. Nhưng nó rất dễ mất tập trung. Vì thế tôi khen nó vì đã tập trung và không đòi nghỉ giữa chừng. Nếu nó nghe tôi giảng chăm chú, tôi khen nó về điều đó. Sau mỗi trận bóng, tôi khen nó đã biết cách chuyền bóng thay vì khen “Con chơi tuyệt lắm.” Và nếu nó cố gắng để tranh bóng, tôi khen nó về sự cố gắng đó.

Như những gì nghiên cứu đã hứa hẹn, sự khen ngợi có chủ đích này giúp con tôi nhìn ra phương pháp nó có thể áp dụng trong ngày hôm sau. Thật tuyệt khi ta thấy được hiệu quả thấy rõ của dạng khen ngợi này.

Nhưng phải nói thẳng là trong khi con tôi chẳng gặp vấn đề gì với “chế độ khen ngợi” mới này thì chính tôi mới là người chịu đựng. Hóa ra tôi mới là thằng nghiện lời khen. Khen con tôi về một kỹ năng hay một công việc cụ thể nào đó khiến tôi cảm thấy mình đã bỏ qua và chưa đánh giá đúng những khía cạnh khác của con tôi. Tôi cảm thấy rằng khen con tôi theo cách chung nhất đại loại “Con giỏi lắm – Ba tự hào về con” là một cách thể hiện tình yêu vô điều kiện.

Khen ngợi đã trở thành một thứ thần dược để chữa sự lo lắng của các bậc làm cha làm mẹ thời nay. Trong cuộc sống thường nhật của bọn trẻ, chúng ta muốn chúng cảm thấy sự yêu thương nhiều hơn khi cả nhà quây quần bên nhau. Trong vài giờ ít ỏi đó, chúng ta muốn bọn trẻ được nghe những điều mà ta không thể nói vào ban ngày – Ba mẹ luôn đứng về phía con, vì còn và ba mẹ tin tưởng vào con.

Cũng tương tự như vậy, chúng ta đặt con cái của mình vào một môi trường áp lực rất cao. Chúng ta tìm trường tốt nhất cho chúng, và chúng ta khen chúng thường xuyên nhằm giảm nhẹ sự căng thẳng trong những môi trường như vậy. Chúng ta kỳ vọng rất nhiều vào con cái của  mình. Nhưng chúng ta che dấu sự kỳ vọng đó đằng sau những lời khen ngợi không tiếc lời. Tôi chợt nhận thấy rõ sự giả dối này.

Cuối cùng, khi tôi bắt đầu vào giai đoạn cuối của việc chấm dứt khen ngợi bừa bãi, tôi chợt nhận ra rằng không khen con mình thông minh tức là tôi đã cho nó tự kết luận về sự thông minh của mình. Bộp chộp với lời khen cũng giống như bộp chộp nói cho con bạn lời giải của một bài tập toán vậy – nó tước mất cơ hội để thằng bé tự suy luận ra điều đó.

Nhưng nếu nó nhận định sai thì sao?

Tôi có thể để cho nó tự làm điều đó không, ở lứa tuổi của nó?

Tôi vẫn là một người cha rất kỳ vọng. Buổi sáng hôm nay tôi kiểm tra thằng bé trên đường tới trường: “Này, ba hỏi lại con bộ não của con sẽ như thế nào nếu nó phải nghĩ về một điều gì đó rất khó?”

 “Nó sẽ to hơn, giống như cơ bắp vậy”, thằng bé trả lời, như nó đã từng trả lời trúng phóc câu hỏi này lần trước.
 
 
 
 
Bình luận
Thứ năm, ngày 21/9/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Lẩm & Lẩn
Góc Bạn bè
Đãi chữ - Đãi sách
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait