VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Bài dịch 17 - Những thứ đọc được ở Báo Việt Nam News
Mrs. Robinson
Nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng sản phẩm sinh thái
E-Bơi tuyển chọn bác cháu Tao Táo To
Ếch bơi thế nào?
Chúc Bi Bầu... Chúc Bi Bầu...
Số lượt truy cập
4175062
Số người đang xem
7


VĂN HOÁ > TaLaWho? - Ta là Tao! > Đãi chữ - Đãi sách >


Số phận trớ trêu
Bộ phim “Số phận trớ trêu hay Xông hơi nhẹ nhõm” ("Ирония Судьбы или С лёгким паром!») là một trong những bộ phim nổi tiếng của điện ảnh xô viết những năm 70 thế kỷ XX. Đạo diễn Eldar Ryazanov, kịch bản phim của Emil Braginsky và Ryazanov, Hãng Mosfilm sản xuất năm 1975.





Xem Phần I TẠI ĐÂY:  http://youtu.be/lVpmZnRIMKs

Xem Phần II TẠI ĐÂY: http://youtu.be/5TmGPeowN-0

Bộ phim “Số phận trớ trêu hay Mát mẻ nhé” ("Ирония Судьбы или С лёгким паром!») là một trong những bộ phim nổi tiếng của điện ảnh xô viết những năm 70 thế kỷ XX. Đạo diễn Eldar Ryazanov, kịch bản phim của Emil Braginsky và Ryazanov, Hãng Mosfilm sản xuất năm 1975.

Tên phim “Số phận trớ trêu” gợi nhớ đến các vị thần chơi đùa với con người. Tên gọi thứ hai đi cùng với liên từ “hay” là “Xông hơi nhẹ nhõm” (S lyokhkim parom!) (dịch sát nghĩa là "Chúc nhẹ hơi", là một thành ngữ thường được dùng để nói với người vừa tắm xong. Câu chúc này liên quan đến truyền thống tắm hơi của người Nga: người ta đun sôi nước, có thể có thêm các dược thảo, cho hơi nước tỏa đầy phòng tắm, người tắm sẽ ngồi hoặc nằm trong hơi nước nóng đó và dùng cây chổi làm bằng cành lá bạch dương quật lên mình.)

Phần lớn cốt truyện phim xoay quanh cái mà nhiều người gọi là “sự vô hồn” của kiến trúc đô thị thời đại Brezhnev (cuối những năm 60 và những năm 70): hàng loạt ngôi nhà như những chiếc hộp lớn cùng kiểu như nhau được xây dựng khắp các đô thị của Liên bang Xô viết, với những căn hộ giống nhau, thậm chí cách trang trí nội thất cũng từa tựa như nhau. Tên gọi của các đường phố cũng được đặt giống nhau.

Những người bạn học từ thời phổ thông gặp nhau trong một nhà tắm hơi ở thành phố Moskva vào buổi tối trước năm mới. Một người trong số họ (Pavlich) chuẩn bị ra máy bay đi Leningrad, còn một người (nhân vật chính Zhenia Lukashin do Andrei Myagkov đóng) có cuộc hẹn quan trọng với người vợ chưa cưới Galia (Olga Naumenko đóng) lúc giao thừa. Bốn người bạn uống rượu quá chén, Zhenia và Pavlich quá say, hai người còn lại cũng không còn tỉnh táo và không còn nhớ ai phải đi Leningrad, kết quả là Zhenia bị đẩy lên máy bay. Đến sân bay Leningrad, Zhenia gọi taxi, nói số nhà và tên đường của nhà mình ở Moskva, và anh được đưa đến một ngôi nhà có số nhà, tên đường như thế (nhưng ở Leningrad), trong đó có căn hộ cũng giống hệt căn hộ của anh, đến nỗi chìa khóa cũng tra vào mở được cửa.

Lukashin quá say nên không nhận ra mình đang ở thành phố lạ, nhà lạ. Trong khi anh đang ngủ trên giường thì chủ nhân đích thực của ngôi nhà (Nadia, do Barbara Brylska đóng) trở về. Xảy ra cuộc chiến giữa hai người vì ai cũng khẳng định họ đang ở trong nhà mình. Khi Zhenia nhận ra mình đang ở Leningrad thì cũng đồng thời hiểu ra tình huống bi kịch của mình: vị hôn thê của anh đang chờ đợi ở Moskva, mà máy bay chỉ đến sáng mới có chuyến. Sự việc càng phức tạp khi người yêu của Nadia là Ippolit (diễn viên Yuri Yakovlev thủ vai), một người đàn ông mực thước, nghiêm chỉnh nhưng cả ghen, theo lời hẹn đến đón năm mới cùng cô. Một đêm giao thừa đầy sóng gió đã làm thay đổi số vật của những nhân vật trong phim.

Bộ phim được dựng vào năm 1975 và từ đó, năm nào nó cũng được chiếu trên truyền hình Liên Xô vào ngày đầu năm mới.

Về đạo diễn Eldar Ryazanov: sinh năm 1927 tại thành phố Quibishev, năm 1950 tốt nghiệp Khoa Đạo diễn, Trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Moskva. Sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh, ban đầu Ryazanov thành công với thể loại phim tài liệu, nhưng về sau lại gắn với các phim bi hài. Phim của Ryazanov đầy chất hài, nhân hậu và hấp dẫn, tạo nên bộ mặt của phim hài Nga những năm 1960 -70. Nhân vật Zhenia Lukashin trong phim “Số phận trớ trêu”, cũng như những nhân vật ở các phim khác như “Hãy giữ gìn ô tô” (1966), “Zíczắc của thành công”(1968), “Những lão già kẻ cướp”(1971),…đã trở thành biểu tượng của những thập niên này, là hình tượng của những con người tốt bụng mà nhờ có họ thế giới đứng vững được.

Thơ và nhạc trong phim “Số phận trớ trêu”

Trong phim “Số phận trớ trêu” có nhiều bài hát, vốn là các bài thơ của các nhà thơ Nga được phổ nhạc. Dưới đây là các bài thơ, cùng với lời giới thiệu về các tác giả của chúng, và đường dẫn về bộ phim “Số phận trớ trêu” để có thể nghe các bài hát trong phim.




Boris Pasternak (1890 – 1960)


Boris Pasternak – nhà thơ lớn
(Trích bài viết của nhà thơ Evgeny Evtushenko nhân kỷ niệm 100 năm sinh Pasternak)

Ông là một trong những nhà thơ lớn nhất của nước Nga và của thế giới. “Và toàn bộ dải đất này đều là di sản của ông, ông đã chia sẻ hết thảy mọi thứ với chính dải đất ấy”, Anna Akhmatova viết về ông như vậy. Maiakovsky cho rằng đối đãi với thơ ca phải sòng phẳng như đối đãi với phụ nữ, như trong khổ thơ thiên tài sau đây của Pasternak:

Vào ngày ấy, trên tay anh, em toàn vẹn
Từ đỉnh đầu đến tận gót chân kia
Như chàng diễn viên tỉnh lẻ thuộc Shakespeare
Anh cũng mang em theo và cũng thuộc em tường tận
Lang thanh khắp phố phường và diễn tập khắp nơi.

Là con trai của họa sĩ nổi tiếng Leonid Pasternak, thời trẻ, ông được giáo dục trong một môi trường trí thức rất mực uyên bác. Ông từng thử sáng tác nhạc do chịu ảnh hường của Skryabin. Lúc trưởng thành, Pasternak thông thạo nhiều ngoại ngữ. Ông từng theo học tại đại học tổng hợp Marburg.

Trong số các nhà thơ nước ngoài, có lẽ Rilke là người đã ảnh hưởng đến ông sâu đậm nhất. Còn trong số các nhà thơ đương đại thì người thu hút ông mãnh liệt hơn cả là Mayakovsky, và tình bạn phức tạp giữa họ là một tình bạn xây dựng trên nền tảng vừa hâm mộ nhau lại vừa ruồng bỏ nhau. Nếu Mayakovsky thiên về hướng đi từ thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài nhiều hơn, thì Pasternak hồi đầu có gắn bó với chủ nghĩa vị lai, nhưng về sau ông đã sớm từ bỏ nó, bởi lẽ cuộc đấu tranh trong văn học là điều hoàn toàn xa lạ với bản tính của ông. Song đối với Pasternak, Mayakovsky vẫn mãi là hiện thân của tình yêu thủy chung thời trai trẻ, và Pasternak chính là tác giả của những vần thơ hay nhất nói về cái chết của Mayakovsky:

Phát súng của anh chẳng khác nào ngọn lửa Elna
Bên thềm núi của lũ ươn hèn và nhút nhát
(…)

Nét đặc sắc của thơ ca Pasternak thời trẻ là sự bão hòa quá ư thừa thãi về chất liệu của thơ. Thơ ông không tương đồng với thực thể của thi ca, mà với cái tinh túy nhất, chắt gạn ra từ đó. Tính chất hình khối có thể sờ nắn được của thế giới trong thơ ca Pasternak đã đạt đến hiệu quả gần như tột đỉnh, khi một cành hoa lấp lánh sương bỗng vươn thẳng dậy từ trang thơ và cù nhẹ lên đôi hàng mi của kẻ đang lăn ra đọc thơ ông.

Thơ Pasternak tựa hồ như được ngăn cách hẳn với thời gian. Câu “Bạn yêu ơi, ta đang ở vào thiên niên kỷ nào đây?” từng đường nhiều lần dẫn ra để buộc tội nhà thơ là đã tự tách mình ra khỏi thời đại. Nhưng kỳ thực, sáng tác của Pasternak là những áng văn mang tính chất lịch sử rất mực sâu đậm. Ông đã khắc họa nên những bức tranh lịch sử hùng tráng trong “Năm 1905”, “Trung úy Smith”. Một trong những bức chân dung Lenin bằng thơ xuất sắc nhất chính là do ngòi bút của Pasternak tạo nên (“Căn bệnh cao vời”)

Trước chiến tranh, Pasternak đã tham dự Đại hội các nhà văn thế giới chống phát xít tại Paris, và được cả hội trường đứng dậy hoan nghênh; còn trong những năm chiến tranh, thơ ông đã chiến đấu chống bè lũ xâm lược.

Nét tiêu biểu của thơ ca Pasternak sau chiến tranh là niềm khát khao vươn đến sự trong sáng. “Cái tinh túy nhất” ngày trước đã nhường chỗ cho tính cổ điển hơn, cho sự bình dị hiểu theo nghĩa cao cả của từ này. Thơ ông để mất đi một cái gì đó, nhưng bù lại đã chiếm lĩnh được một cái gì đó khác trước.

Một sáng tác dày công của Pasternak là thiên tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”. Ở đây ông đã khắc họa chân dung một trí thức Nga tình cờ bị lọt vào giữa hai làn hỏa lực trong thời nội chiến. Thiên truyện được viết ra không chút ác ý hoặc cũng không hề mưu toan hạ thấp uy tín của Cách mạng Tháng Mười. Những người như bác sĩ Zhivago là có thật, và lịch sử của cuộc nội chiến chắc hẳn sẽ không toàn vẹn nếu như vắng bóng nhưng gương mặt của những người như họ. Nhưng tiếc thay, thiên tiểu thuyết cũng lại bị lọt vào giữa hai làn hỏa lực. Hội Nhà văn Liên xô đã kết tội “Bác sĩ Zhivago”, coi đó là một tác phẩm chống Liên Xô, và đã khai trừ Pasternak ra khỏi Hội nhà văn (…) Mặt khác, báo chí phương Tây lại lợi dụng “vụ Pasternak” vào những mục đích chính trị của họ.

(…)

Pasternak còn là một dịch giả lỗi lạc; ông đã truyền đạt sang tiếng Nga nhiều kiệt tác của Goethe, Shakespeare, Rilke và của thơ ca Gruzia.

(…)

KHÔNG AI Ở TRONG NHÀ
Thơ B.Pasternak

Sẽ chẳng còn ai nữa trong nhà
Ngoài bóng hoàng hôn. Chỉ còn đơn độc
Ngày đông qua những khỏang rèm
Chưa buông hết

Chỉ có ánh quay tròn loang lóang
Của những làn ẩm ướt trắng phau
Chỉ có những mái nhà và tuyết
Ngòai mái nhà và tuyết – có ai đâu

Và giá băng lại khởi sự vẽ vời
Và lại bắt đầu ám ảnh tôi
Nỗi muộn sầu năm trước
Và những chuyện của mùa đông trước

Và lại nhói đau đến tận bây giờ
Cái lỗi lầm không bao giờ nguôi được
Và nỗi đói củi lò
Sẽ đè nặng những khung cửa sổ

Những bất chợt lướt trên rèm cửa
Luồng run khí động bóng ai vào
Từng bước chân đo không gian lặng lẽ
Như tương lai, em sẽ bước vào

Em sẽ hiện ra bên cửa
Mặc một cái gì bình dị, trắng tinh
Một cái gì may bằng chất liệu
Làm thành hoa tuyết mùa đông

(Hoàng Hưng dịch)


НИКОГО НЕ БУДЕТ В ДОМЕ
Борис Пастернак

Никого не будет в доме,
Кроме сумерек. Один
Зимний день в сквозном проеме
Незадернутых гардин.

Только белых мокрых комьев
Быстрый промельк моховой,
Только крыши, снег, и, кроме
Крыш и снега, никого.

И опять зачертит иней,
И опять завертит мной
Прошлогоднее унынье
И дела зимы иной.

И опять кольнут доныне
Неотпущенной виной,
И окно по крестовине
Сдавит голод дровяной.

Но нежданно по портьере
Пробежит сомненья дрожь,-
Тишину шагами меря.
Ты, как будущность, войдешь.

Ты появишься из двери
В чем-то белом, без причуд,
В чем-то, впрямь из тех материй,
Из которых хлопья шьют.


1931

Nghe bài hát “Никого не будет в доме”:




Nữ sĩ không già
(Minh Huyền)

Một kiếp nhân sinh không quá ngắn ngủi nhưng thực sự chẳng dài, dẫu rằng nửa thế kỷ đối với một thi sĩ ở nước Nga là khoảng thời gian đáng kể. Thế nhưng, trong nửa thế kỷ đời mình, Marina Tsvetaeva dù phải sống rất đoạn trường cũng đã làm nên được một gia tài văn học khổng lồ.




Marina Tsvetaeva (1892 – 1941)


Theo một thống kê có lẽ còn chưa đầy đủ, các tác phẩm của bà gồm có 15 tập thơ, 17 trường ca, 8 kịch thơ, nhiều tập tiểu luận, phê bình văn học, hồi ký... Đặc biệt, bà đã tạo nên một dấu ấn nghệ thuật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của thơ ca Nga ngữ trong suốt thế kỷ XX và có lẽ còn sang cả thế kỷ XXI.

Không ngẫu nhiên mà cả các nhà thơ theo phong cách Xôviết truyền thống lẫn những thi sĩ cách tân tầm cỡ như Joseph Brodsky cũng đều kính trọng bà, thậm chí nhiều người còn coi bà như người thầy tinh thần của mình trên con đường trập trùng gian khó và đậm đặc sương khói của thi ca. Có thể thấy ảnh hưởng của phong cách tư duy thơ Marina Tsvetaeva khi đọc một số bài thơ của nữ thi sĩ Ba Lan vừa được giải thưởng Nobel về văn học năm 1996, Wislawa Szymborska .

Là một thi nhân đích thực thì nói chung khó có thể mong mỏi cái sự yên ả trong đời. Làm thi nhân ở nước Nga, lại trong giai đoạn diễn ra cuộc thử nghiệm xã hội kinh thiên động địa nhất thế kỷ XX, giữa những thế chiến đẫm máu, càng không thể thoát khỏi vòng xoáy lốc của lịch sử. Marina Tsvetaeva đã phải trải qua những thử thách nghiệt ngã nhất có thể tới với một con người. Vốn mang sẵn trong mình một hồn thơ bi thảm, lại bị cuốn theo thời cuộc đầy bi thảm, bà đã buộc phải là một thi sĩ có số phận bi thảm vào loại bậc nhất nước Nga thế kỷ XX.

Marina Tsvetaeva sinh năm 1892 trong một gia đình trí thức Nga thượng lưu. Cô bé Marina lớn lên trong không khí nghệ thuật tràn ngập trong gia đình và xã hội quanh mình. Marina Tsvetaeva sớm bị lôi cuốn vào cái kiếp "giời đầy làm thơ". Ngay khi còn ở trung học, năm 1911, Marina Tsvetaeva đã xuất bản tập thơ đầu tay Album chiều và lập tức được các nhà thơ đương thời (vốn rất ngạo mạn) chấp nhận cùng ngồi "chung một chiếu"! Tập thơ tiếp theo: Cây đèn kỳ diệu (1912) cũng được độc giả và giới phê bình văn học đón nhận nồng nhiệt. Các tập thơ Dặm liễu (1921), Thơ gửi Blốc, Chia ly (1922), Psukher. Lãng mạn, Thủ công (1923), Sau nước Nga, 1922-1925 (1928)... đã khẳng định vị trí thi nhân Nga ngữ hàng đầu của Marina Tsvetaeva, ngay cả khi bà đã di cư ra khỏi Tổ quốc năm 1922.

Sống nơi đất khách quê người, dù phải chịu vô vàn khổ ải vật chất và tinh thần, năng lực sáng tạo của Marina Tsvetaeva vẫn rất dồi dào. Tài năng sở dĩ có giá trị là vì nó không để cho hoàn cảnh vùi dập nó, ngay cả trong tình huống bế tắc nhất. Đấy là giai đoạn mà bà đã cho xuất bản những tập sách nổi tiếng như Trường ca núi, Trường ca kết cục, Trường ca không khí...

Dù vẫn có thể làm việc hiệu quả ở xa nước Nga, nhưng suốt những năm tháng lưu lạc châu Âu, trong lòng Marina Tsvetaeva vẫn luôn sâu nặng một nỗi thiếu quê hương đắng như ngải cứu. Chính vì thế nên năm 1939, gặp thời cơ, bà lập tức trở về với nước Nga. Đó là thời điểm "đêm trước" của cuộc thế chiến với vô vàn hiểm họa bên trong. Tâm hồn thi sĩ đã không dễ dàng chịu đựng những khắc nghiệt của thực tại nước Nga thời đó. Và tai họa đã đến: Ngày 31/8/1941, ở tuổi 49, Marina Tsvetaeva đã tự vẫn tại Elabur, trong khói sương của những đồn đại và nghi án tới giờ vẫn chưa gỡ bỏ được.

Marina Tsvetaeva là một nhà thơ có nhiều mã số. Bản chất ý tưởng trong thơ bà là phép ẩn dụ luôn được đẩy tới cao độ. Bản chất tình cảm trong thơ bà là những con sóng luôn nôn náo và xáo trộn. Trong những dòng thơ của bà, từ ngữ dường như được bồi bổ thêm những sắc thái ý nghĩa mới hết sức bất ngờ. Nhịp điệu thơ bà ngay ở những bài có dáng vẻ cổ điển nhất cũng rất bất thường, dường như bị xô đẩy, cắt quãng theo những qui luật rất riêng tư và mới mẻ. Trong thơ bà, nhiều khi chỗ kết dòng thơ lại không trùng với chỗ kết câu thơ. Thơ bà đã tạo một cơ chế mở rất lớn cho sự suy tưởng và những "ý tại ngôn ngoại".

Đọc thơ Marina Tsvetaeva không dễ, lắm khi đòi hỏi một trạng thái tinh thần đặc biệt ở độc giả. Konstantin Pautovsky đã nhận xét, thơ Marina Tsvetaeva- đó là "loại thơ có độ sâu sắc và sức mạnh như thơ Chiutsev, với thứ tiếng Nga sống động và đầy trọng lượng như hạt thóc căng tròn...". Cũng theo nhà văn Nga Xôviết tinh tế này, “tình yêu của một đứa con đối với nước Nga mà dù ở ‘giữa thiên đàng’ nàng ‘vẫn còn khóc tiếc’, vô số những cay đắng và bất hạnh luôn luôn chất chứa trong các bài thơ xuất sắc-đó là cái chính yếu của Marina Tsvetaeva"

EM RẤT VUI
Thơ M.Tsvetaeva

Em rất vui vì anh không yêu em
Em rất vui vì em không yêu anh
Vì chẳng bao giờ trái đất này nặng trĩu
Lại trôi đi dưới gót chúng mình

Em rất vui vì em có thể nực cười
Chẳng cần chơi chữ, và có thể lả lơi
Và nếu như tay áo ta chạm khẽ
Thì em chẳng cần đỏ mặt đến nghẹn lời

Em rất vui vì khi em có mặt
Anh điềm tĩnh ôm một người khác đẹp xinh
Đừng rủa em phải cháy trong địa ngục
Vì người em hôn chẳng phải là anh.

Cả ngày lẫn đêm chẳng bao giờ anh nhắc
Tên em dịu dàng – thật vô ích quá mà
Và chẳng bao giờ trong nhà thờ yên tĩnh
Người ta hát mừng chúng mình “alleluia” (halleluiah: Tạ ơn Chúa)

Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mỗi tối

Vì ta không cùng đi dạo dưới trăng thanh
Vì mặt trời chẳng chiếu sáng đôi mình
Vì – thật tiếc rằng – anh không yêu em
Vì – thật tiếc rằng – em không yêu anh.


(Bản dịch của Nina)

Мне нравится, что вы больны не мной

Мне нравится, что вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.

Мне нравится, что можно быть смешной -
Распущенной - и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.

Мне нравится еще, что вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не вас целую.

Что имя нежное мое, мой нежный, не
Упоминаете ни днем, ни ночью - всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: аллилуйя!

Спасибо вам и сердцем и рукой
За то, что вы меня - не зная сами! -
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,

За наши не-гулянья под луной,
За солнце, не у нас над головами,-
За то, что вы больны - увы! - не мной,
За то, что я больна - увы! - не вами!


Nghe bài hát“Мне нравится, что вы больны не мной”:




Em muốn nhìn vào tấm gương

Em muốn nhìn vào tấm gương,
Nơi mờ sương và mộng ảo
Dò tìm lối dẫn anh đi
Chốn nào nơi anh ẩn náu.

Em trông thấy những cột buồm,
Và anh trên boong tàu đó
Trên chuyến hoả xa khói toả
Trên cánh đồng chiều muộn phiền

Những cánh đồng đẫm sương đêm
Bên trên lao xao lũ quạ
Cầu phúc cho anh tất cả
Cầu cho anh cả bốn phương

(Phương Phương dịch)

Хочу у зеркала, где муть

Хочу у зеркала, где муть
И сон туманящий,
Я выпытать -- куда вам путь
И где пристанище.

Я вижу: мачты корабля,
И вы -- на палубе...
Вы -- в дыме поезда... Поля
В вечерней жалобе...

Вечерние поля в росе,
Над ними -- вороны...
-- Благославляю вас на все
Четыре стороны!


Nghe bài hát “Хочу у зеркала, где муть” (Благославляю вас):




Bella Akhmadulina (tên thật là Izabella Akhmadulina) sinh năm 1937, mang trong mình dòng máu nửa Tartar, nửa Italia. Bà từng học ở Trường viết văn Gorky, và bắt đầu in thơ vào năm 1955. Những tập thơ tiêu biểu của bà dưới thời xô viêt: “Dây đàn” (1962), “Những giờ học nhạc” (1969), “Bão tuyết” (1977), “Ngọn nến” (1977), “Những giấc mộng Gruzia” (1977), “Bí mật”(1983). Thơ bà còn được in ở Đức, Hoa Kỳ,…



Bella Akhmadulina

Ngoài làm thơ, Akhmadulina còn là một dịch giả nổi tiếng, bà từng được nhận Huy chương hữu nghị năm 1984 do công lao dịch sáng tiếng Nga sáng tác của các tác gia các dân tộc ở Liên Xô cũ (đặc biệt là của các nhà thơ Gruzia) Bà kết hôn nhiều lần, trong đó có nhà thơ nổi tiếng Evgeny Evtushenko, nhà viết truyện ngắn Yury Nabigin. Bà là một trong những nữ thi sĩ nổi tiếng của Nga thế kỷ XX. Thơ bà đầy chất trữ tình, (từng bị phê phán là quá ủy mị riêng tư). Các nhà phê bình xếp bà vào hàng các nhà thơ “hậu hiện đại” của Nga. Bà là một trong bộ tứ các nhà thơ “tạp kỹ” (poets of estrade, gồm E.Evtushenko, A.Voznesensky, R.Rozhdestvensky và Akhmadulina), được đặc biệt đề cao vào thời kỳ hậu xô viết. Thơ bà cũng được so sánh với thơ của các nữ thi sĩ Anna Akhmatova và Marina Tsvetaeva. Đây cũng là nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc và đưa vào các tác phẩm điện ảnh Nga những năm 70 – 80 thế kỷ XX.

Trên con phố của tôi

Trên con phố của tôi năm đó
Vang tiếng chân các bạn tôi ra đi
Cuộc ra đi chậm chạp của bạn bè
Hoà trong bóng đêm ngoài cửa sổ

Sự nghiệp bạn bè tôi dang dở
Trong nhà không còn âm nhạc, lời ca
Chỉ còn những đứa con gái Degas
Những ngọn lông màu xanh vẫn sửa

Biết làm sao, thôi miễn cơn khiếp sợ
Đừng thức bạn, kẻ yếu ớt trong đêm
Mong sao cơn kinh hoàng phản bội
Đừng làm mờ đôi mắt những bạn hiền

Ôi, cô đơn, sao mà người ác nghiệt
Huơ chiếc compa sắt quanh tôi
Vẽ vòng tròn lạnh lùng quây chặt
Chẳng thể van xin vô ích lấy một lời.

Hãy mời gọi, hãy ban thưởng cho tôi
Đứa con cưng người nâng niu ve vuốt
Tôi bình tâm khi ngả giữa ngưc người
Gột rửa mình trong màu xanh giá buốt

Cho tôi nhón chân trong rừng của người,
Nơi cuối rừng kiếm tìm, chậm chạp
Áp lên mặt những chiếc lá rụng rơi,
Cảm giác bơ vơ như niềm hoan lạc

Hãy ban tôi sự lặng yên thư thất
Giai điệu nghiêm trang khúc nhạc của người
Tôi thông thái rồi sẽ lãng quên thôi
Ai đã chết hay giờ đây còn sống

Tôi nhận ra trí tuệ, niềm sầu muộn,
Ý nghĩa ẩn sau muôn sự vật trên đời
Thiên nhiên nghiêng xuống đôi bờ vai tôi
Thầm thì những điều trẻ thơ bí mật

Rồi từ bóng đêm, và từ nước mắt
Từ đáng thương ngu dốt thuở qua
Nét tuyệt vời của các bạn ngày xa
Lại hiện về và tan hòa trở lại.

(1959)

(Phương Phương dịch)




По улице моей

По улице моей который годзвучат
шаги — мои друзья уходят.
Друзей моих медлительный уход
той темноте за окнами угоден.
Запущены моих друзей дела,
нет в их домах ни музыки, ни пенья,
и лишь, как прежде, девочки Дега
голубенькие оправляют перья.

Ну что ж, ну что ж, да не разбудит страх
вас, беззащитных, среди этой ночи.
К предательству таинственная страсть,
друзья мои, туманит ваши очи.
О одиночество, как твой характер крут!
Посверкивая циркулем железным,
как холодно ты замыкаешь круг,
не внемля увереньям бесполезным.

Так призови меня и награди!
Твой баловень, обласканный тобою,
утешусь, прислонясь к твоей груди,
умоюсь твоей стужей голубою.

Дай стать на цыпочки в твоем лесу,
на том конце замедленного жеста
найти листву и поднести к лицу,
и ощутить сиротство как блаженство.

Даруй мне тишь твоих библиотек,
твоих концертов строгие мотивы,
и — мудрая — я позабуду тех,
кто умерли или доселе живы.

И я познаю мудрость и печаль,
свой тайный смысл доверят мне предметы.
Природа, прислонясь к моим плечам,
объявит свои детские секреты.

И вот тогда — из слез, из темноты,
из бедного невежества былого
друзей моих прекрасные черты
появятся и растворятся снова.


Nghe bài hát “По улице моей”:




Alexandre Aronov (1934 – 2001) sinh trưởng và qua đời tại Moskva. Ông tốt nghiệp Trường Đại học sư phạm mang tên Patyomkin, làm nghiên cứu sinh về giáo dục nghệ thuật ở Viện Hàn lâm Giáo dục Liên bang Nga. Ông từng dạy học tại trường phổ thông ở ngoại ô Moskva, nghiên cứu ngôn ngữ học tính toán ở Viện Tóan học thuộc Viện Hàn lâm Liên Xô. Hơn 30 năm ông làm bình luận viên của tờ báo “Thanh niên cộng sản Moskva” và thường xuyên viết bài, đăng thơ trên báo này.



Alexandre Aronov (1934 – 2001)

Cùng với bộ phim “Số phận trớ trêu”, bài thơ “Nếu như anh không có bà cô” trở nên hết sức nổi tiếng trong công chúng Nga.

Nếu như anh không có bà cô
Thơ: A.Aronov

Nếu như anh không có nổi ngôi nhà
Thì cháy nhà có gì đâu phải sợ
Nếu như anh chưa hề có vợ
Thì chẳng lo cô ấy bỏ theo ai

Nếu như chó nhà anh không nuôi
Thì lo gì láng giềng đánh bả
Với bạn bè chẳng cần cãi vã
Nếu như không kết bạn bao giờ

Nếu như anh chẳng có bà cô
Thì không phải lo bà ấy mất
Và cũng chẳng bao giờ phải chết
Nếu như anh không sống trên đời

Dàn nhạc hát giọng trầm, kèn đồng vang réo rắt
Nghĩ kỹ đi, nghĩ cho thật kỹ càng
Tự mình quyết định, chẳng vội vàng
Có hay không, có hay là không có

Không có bà cô thì có gì phải sợ
Hàng xóm không đánh bả bà đâu
Nếu như chẳng có người bạn nào
Thì vợ không bỏ theo ai cả

(Phương Phương dịch)

Если у вас нету тети

Если у вас нету дома
пожары ему не страшны
И жена не уйдет к другому
Если у вас если у вас
Если у вас нет жены
(Нету жены)

Если у вас нет собаки
ее не отравит сосед
И с другом не будет драки
Если у вас если у вас
Если у вас друга нет (друга нет)

Оркестр гремит басами
трубач выдувает медь
Думайте сами решайте сами
Иметь или не иметь

Если у вас нету тети
то вам ее не потерять
И если вы не живете
то вам и не то вам и не
То вам и не умирать (не умирать)

Оркестр гремит басами
трубач выдувает медь
Думайте сами решайте сами
Иметь или не иметь (иметь или не иметь)

Если у вас нету тети,
ее не отравит сосед,
И жена не уйдет к другому,
если у вас друга нет


Nghe bài hát “Если у вас нету тети”:



Vladimir Kirshon (1902 – 1938) tác giả bài thơ "Tôi hỏi cây Tần Bì"

Tôi hỏi cây Tần Bì
(Tác  giả: Vladimir Kirshon)

Vài  nét  về  tác  giả: Vladimir Kirshon (1902 – 1938), nhà văn, nhà soạn kịch. Ông tốt nghiệp Trường Đại học Cộng sản mang tên Sverdlov năm 1923. Năm 1918, ông gia nhập Hồng quân, năm 1920 vào Đảng Cộng sản Nga. Ông là tác giả của những vở kịch mang tính tuyên truyền, từng viết nhiều bài ca thanh niên Komsomol. Ông làm công tác Đảng những năm 1923-25. Từ 1925 là một trong những người lãnh đạo Hiệp hội các nhà văn vô sản Nga (RAPP), là một người có tư tưởng cấp tiến. Ông có những tác phẩm ca ngợi Stalin và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, tuy nhiên năm 1937 bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Liên Xô, sau đó bị bắt, bị buộc tội thuộc “nhóm Trotskist trong văn chương”, bị kết án tử hình và bị xử bắn năm 1938. Ông được phục hồi danh dự vào năm 1956 và các vở kịch của ông lại được dựng trên sân khấu xô viết.

Kịch của Kirshon không phải là những tác phẩm xuất sắc, nhưng bài thơ “Tôi hỏi cây tần bì” thì rất nổi tiếng và có một số phận đặc biệt. Bài thơ được sáng tác và phổ nhạc lần đầu tiên vào năm 1935 trong một vở hài kịch của Kirshon “Sinh nhật”. Người phổ nhạc là Tikhon Khrennikov, sau trở thành Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Liên Xô. Sau thời kỳ các vở kịch của Kirshon bị cấm diễn, rồi lại được phục hồi, bản thân Khrennikov cũng không còn nhớ các nốt nhạc của bài ca. Nhưng nhà đạo diễn Eldar Ryazanov, một người có tài thuộc thơ đặc biệt, lại nhớ bài ca. Ông từ lâu đã nuôi ý định đưa bài thơ về mối tình bất hạnh và sự phản bội “cặp đôi” (của người tình và của người bạn thân) này vào một bộ phim nào đó của mình, nhưng chỉ khi dựng bộ phim “Số phận trớ trêu” vào năm 1975 thì cảm hứng mới thăng hoa. Nhạc sĩ Michael Tariverdiev nhanh chóng viết nhạc cho bài thơ, ca sĩ thể hiện nó là Sergei Nikitin. Và thế là “Tôi hỏi cây tần bì” đi vào lòng công chúng cùng với những bản romance viết trên lời thơ của các nhà thơ nổi tiếng M.Tsvetaeva (Bên tấm gương soi, Em rất vui), B.Pasternak (Không ai ở trong nhà), B.Akhmadulina (Trên con đường tôi đi năm ấy…)…

Bài thơ còn nổi tiếng bị nhại, bị xuyên tạc rất nhiều.

TÔI HỎI CÂY TẦN BÌ
Thơ V.Kirshon

Tôi hỏi cây tần bì, người tôi yêu ở đâu
Tần bì chỉ lắc đầu không đáp
Tôi hỏi cây phong, người tôi yêu ở đâu
Phong trút xuống lá mùa thu vàng rực
Tôi hỏi mùa thu, người tôi yêu ở đâu
Mùa thu đáp bằng cơn mưa tầm tã
Tôi hỏi mưa, người tôi yêu ở đâu
Mưa rả rích khóc bên ngoài cửa sổ
Tôi hỏi trăng người tôi yêu ở đâu
Trăng lặng lẽ núp mình sau mây tối
Tôi hỏi mây, người tôi yêu ở đâu
Mây tan ra giữa trời xanh vời vợi,
Ơi bạn thân, bạn duy nhất của tôi,
Nói tôi nghe, nàng trốn đâu mất vậy
Bạn yêu ơi, hãy chỉ giùm tôi với.
Người tôi yêu bây giờ ở nơi đâu
Bạn của tôi, người trung tín của tôi
Bạn đáp lời, những lời chân thật nhất
Rằng: “Bạn ơi, người bạn yêu thuở trước;
Người của bạn thuở trước, bạn ơi
Người của bạn, người thương yêu của bạn.
Người ấy bây giờ là vợ tôi”

(Phương Phương dịch)

Я спросил у ясеня
Я спросил у ясеня,
Где моя любимая.
Ясень не ответил мне,
Качая головой.
Я спросил у тополя,
Где моя любимая.
Тополь забросал меня
Осеннею листвой.
Я спросил у осени,
Где моя любимая.
Осень мне ответила
Проливным дождем.
У дождя я спрашивал,
Где моя любимая.
Долго дождик слезы лил
За моим окном.
Я спросил у месяца,
Где моя любимая.
Месяц скрылся в облаке,
Не ответил мне.
Я спросил у облака,
Где моя любимая.
Облако растаяло
В небесной синеве.
Друг ты мой единственный,
Где моя любимая?
Ты скажи, где скрылася?
Знаешь, где она?
Друг ответил преданный,
Друг ответил искренний:
- Была тебе любимая,
Была тебе любимая,
А стала мне жена.
Я спросил у ясеня,
Я спросил у тополя,
Я спросил у осени...


Nghe bài hát “Я спросил у ясеня”:



Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu




Thứ tư, ngày 20/9/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Lẩm & Lẩn
Góc Bạn bè
Đãi chữ - Đãi sách
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait