VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Người đàn bà hoá đá - Bức tường
E-Bơi lên báo Bưu điện Việt Nam
Bạn suy nghĩ về bơi là bạn biết bơi?
Cuộc đời kỳ lạ của thiên tài toán đoạt Nobel Kinh tế
Ai dễ sa ngã?
Nhà máy sản xuất LAB, LAS và tác động môi trường
Số lượt truy cập
4391211
Số người đang xem
45


VĂN HOÁ > TaLaWho? - Ta là Tao! > Đãi chữ - Đãi sách >


Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo
Tứ Diệu Đế hay Bốn sự thật màu nhiệm, Bốn sự thật cao quý được Đức Phật khám phá để giải thoát con người khỏi khổ đau, gồm:

1 - Khổ Đế: Chân lý về đau khổ
2 - Tập Đế: Chân lý về sự phát sinh ra đau khổ
3 - Diệt Đế: Chân lý về cách diệt đau khổ
4 - Đạo Đế: Chân lý về con đường dẫn đến diệt đau khổ (Bát Chánh Đạo).

1 - Khổ Đế

Đau khổ là một sự kiện thực tế của đời người, là chân lý thứ nhất và là khởi điểm của Đạo Phật.

Phật bảo sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, ưu phiền, ta thán, đau đớn, âu sầu và thất vọng là khổ, gặp gỡ người ưa thích, xa lìa người thân, cũng đều là khổ, không đạt được điều mong muốn cũng là khổ, tóm lại sự vướng mắc (attachment) của “năm uẩn" hay "ngũ uẩn” (sắc, thức thưởng thọ, hành) gây ra khổ.

Đức Phật không dạy trốn tránh đau khổ, mà dạy ta cam đảm, đối diện với đau khổ để sống vui vẻ. Đau khổ không chỉ bao gồm bệnh hoạn, chết chóc mà còn bao gồm những gì khó chịu xảy ra trong tâm thức. Bệnh tật và cõi chết là những thực tế không tránh khỏi. Có sinh thì có tử, có sức khỏe thì có bệnh tật, có tuổi trẻ sẽ có tuổi già, có thành công sẽ có thất bại, có vui thú sẽ có đau đớn, có hội tụ sẽ có chia ly. Như vậy mọi người đều không tránh khỏi đau khổ, và đau khổ sẽ đeo đuổi ta suốt cuộc đời.

Đứng trước đau khổ, ta không thể chối bỏ mà phải chấp nhận để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh của nó. Phải duy trì đức tính tự trọng và lòng can đảm bởi vì sự giác ngộ (enlightenment) được tìm thấy trong niềm đau khổ. Nếu mục đích của con người là sống để hưởng thụ các lạc thú và tiện nghi vật chất v.v. thì những thứ này là “không giới hạn”. Nhiều người thường tích lũy tài sản vì cho rằng tài sản khiến họ được kính trọn. Nhưng nhiều khi cách làm giàu cũng đi kèm theo tội lỗi, khiến họ có thể bị khinh rẻ. Các tu sĩ khất thực (saddhu) là những người sống cao thượng vì không còn bận tâm tới vẻ bên ngoài, không bị lo lắng bởi thăng trầm của hoàn cảnh, cao thượng vì đã chọn lựa cảnh sống thanh bần mà trong sạch. Điều quan trọng và cần thiết là sống một cuộc đời cao thượng vì trong Tâm Tư người biết sống này đã có sự an lành, không buồn phiền, không lo lắng. Và đây là Niết Bàn. Lời Phật dạy: Nơi nào không có phiền não, nơi đó là Niết Bàn.

2 - Tập Đế

Chân lý thứ hai là Tập Đế (Samudaya) đề cập tới những cảm xúc biểu hiện bên trong Tâm chúng ta. Tập là gom góp, tóm hợp các điều vướng mắc mà thành ra khổ. Tập Đế còn được gọi là Tập Khổ Đế (Dukkha samudaya) có nghĩa là “phản ứng từ đau khổ”, tức là những gì xẩy ra đồng thời với đau khổ. Trước các đau khổ, chúng ta thường tránh né, lánh xa những phiền não, ước mong một cuộc đời không khổ đau, nhưng các cố gắng tránh né này thường mang lại nhiều rắc rối hơn.

Một thí dụ về đau khổ là sự chết, mất mát (loss). Trước cảnh chết hay mất mát, chúng ta đau buồn, sầu thương (grief). Sự đau buồn, sầu thương là “tập đế”, cảm xúc này xuất hiện sau nỗi đau khổ, đây là phản ứng tự nhiên trước các thay đổi xấu trong đời sống hàng ngày, chẳng hạn trước sự qua đời của người thân trong gia đình. Nỗi đau buồn là một thứ ngọn lửa cháy bên trong tâm hồn của chúng ta. Đứng trước cảm xúc này, chúng ta không thể dẹp nó được mà nên chấp nhận, suy xét và chế ngự cảm xúc, tự kiểm soát. Đây là cách luyện tập tinh thần.

Nguyên nhân của đau khổ là do “tham ái” (tanha) và “vô minh”. Chính tham ái (hay ái dục) là động cơ vị kỷ, nằm phía sau mọi hành động của nhân loại mê muội, đẩy con người theo nhiều chiều hướng xấu. Vô minh che lấp Tâm sáng suốt tự nhiên. Trong con người của chúng ta, có một thứ địa ngục tàn phá (destructive inferno) gây ra tổn hại, đó là “tam độc”, hay tham (greed), sân (hate) và si (delusion). Những thành phần xấu này thuộc về “ngã” (ego). Người tu theo đạo Phật tập luyện được khả năng tận diệt các bản ngã xấu của mình (absence of ego) hay hiểu rõ “lý vô ngã” của kinh điển Đại Thừa, sẽ không còn bị liên hệ tới các thành phần đau khổ nữa, bởi vì mọi sự vật đều do nhân duyên giả hợp, không có chủ thể thì không còn khổ đau mỗi khi cuộc đời thay đổi, thăng trầm. Người thấu hiểu đạo lý biết rằng mọi sự vật chỉ hiện diện trong một khoảng thời gian, rồi tất cả sẽ là “không” (sắc tức thị không). Chữ “không” ở đây là bản thể vô cùng tận, không hình, không tướng, chuyển sinh ra mọi sự vật, khi nhân duyên hòa hợp thì thành, hết duyên thì hoại, trước có sau không.

Khổ đế (dukkha) được coi như một tia lửa rất nhỏ, Tập Đế (samudaya) là một đám lửa cháy khó kiểm soát, có thể gây nên những tai họa mà chúng ta không lường trước được. Vấn đề phải đối phó là không cần dập tắt ngọn lửa mà biết cách dùng ngọn lửa cháy một cách hữu ích. Tham sân si là ba thứ lửa xấu mà chúng ta cần phải chế ngự.

3 - Diệt Đế

Chân lý thứ ba là Diệt Đế (nirodha) hay chân lý về trạng thái chấm dứt đau khổ, với kết quả là Niết Bàn. Nếu tham ái (hay ái dục) là nguồn gốc của đau khổ thì khi không còn tham ái nữa, chắc chắn đau khổ cũng không còn. Như vậy chúng ta đạt được Niết Bàn nếu biết cách chế ngự ngọn lửa xấu bên trong Tâm chúng ta.

Đức Phật khuyên chúng ta nên hiểu rõ hoàn cảnh sống rồi thực hành sự hiểu biết này bởi vì Hạnh Phúc từ bên trong Tâm mà sinh ra. Tham ái là một gánh nặng mà chúng ta mang theo suốt đời người, đây là một món đồ phụ thuộc rất tai hại cần vứt bỏ, quẳng đi để có một cuộc đời suôn sẻ. 

Tuyệt đối không lo âu và không sợ sệt là kết quả của sự chấm dứt tham ái. Kinh Pháp Cú, câu 96 viết rằng: “Tâm trầm tĩnh, ngôn ngữ trầm tĩnh, hành động trầm tĩnh, người đó hiểu biết chân chính, trọn vẹn siêu thoát, hoàn toàn an tịnh và quân bình”, hay câu 199 nói rõ: “Hạnh phúc thay ta sống không khao khát (dục vọng) giữa những người khao khát”. 

4 - Đạo Đế

Đạo Đế (marga) là chân lý về con đường dẫn đến cách chấm dứt đau khổ, là con đường giải thoát được gọi là “Trung Đạo” (the Middle Path) hay “Bát Chánh Đạo” (the Noble Eightfold Path). Đây là cách đối phó với thực tại của đau khổ, dẫn tới đời sống an lành.
 
Bát Chánh Đạo gồm 8 phần:
 
  1. Chánh kiến (hiểu đúng) (right view): gồm việc gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ Diệu Đế (the Four Noble Truth) và giáo lý (vô ngã), hiểu rõ bản chất của kiếp sinh tồn, của chánh và tà. Đây cũng là giai đoạn đầu và cuối cùng của Bát Chánh Đạo.

  2. Chánh tư duy (nghĩ đúng) (right thought): suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lý (Tứ diệu đế) một cách không sai lầm, tức là có tư tưởng chân chính, biết từ khước, xuất ly và dứt bỏ (tham sân si).

  3. Chánh ngữ (nói đúng) (right speech): không nói dối, không nói phù phiếm, không nói lời độc hại.

  4. Chánh nghiệp (làm đúng) (right action): không phạm các giới luật.

  5. Chánh mệnh (sống đúng) (right livelihood): tránh làm những nghề giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn ma túy.

  6. Chánh tinh tấn (cố gắng đúng cách) (right effort): ngăn chặn không cho khởi sinh các bất thiện chưa có, diệt trừ các bất thiện đã có, phát triển tâm thiện đã có và chưa có, duy trì nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.

  7. Chánh niệm (nhớ đúng) (right mindfulness): tỉnh giác về ba mặt thân- miệng-ý.

  8. Chánh định (tâm đúng đắn) (right samadhi): tập trung tâm ý, đạt bốn định xuất thế gian (bốn xứ)

Bát Chánh Đạo còn có thể chia làm ba phần, đó là (a) Giới (sila) gồm chính ngữ, chính nghiệp và chính mệnh, (b) Định (samadhi) gồm chính tinh tấn, chính niệm và chính định, (c) Tuệ (Panna) gồm chính kiến, chính tư duy.

Giới (sila) liên quan tới nếp sống kỷ cương, hay phẩm hạnh trong sạch. Giới là bước đầu trên con đường tu học, là nền tảng vững chắc của mọi tiến bộ. Chính ngữ rất cần thiết cho đức hạnh bởi vì chỉ có con người mới có khả năng nói, phát biểu tâm tư, vì thế chúng ta phải nói thế nào để không gây tổn hại và có lợi ích cho người khác. Chính nghiệp và chính mệnh cũng dẫn tới các phẩm hạnh trong sạch bởi vì chính mệnh đòi hỏi chúng ta phải tránh xa lối sống bất chính, làm các nghề nghiệp có tính lường gạt, mờ ám.

Sau Giới là hai phần còn lại, đó là Định và Tuệ. Mục tiêu của Giới là giúp phát triển tâm Định và thành đạt Trí Tuệ tối thượng. Giới hạnh càng trong sạch, Tâm càng sáng suốt nhờ đó mà thành đạt Trí Tuệ, tìm ra chân lý cao thượng của đời sống.

Theo giáo pháp Tiểu Thừa, đời sống của con người có ba đặc tướng, đó là “vô thường” (anicca), “đau khổ” (dukkha) và “vô ngã” (anatta). Người tu theo đạo Phật nên duy trì niềm tin, hiểu rõ cá nhân mình bằng kinh nghiệm rồi nhờ đó tự tin, tu học và tự giác ngộ. Khi chấm dứt được tham ái hay ái dục, chúng ta sẽ chứng ngộ chân tướng của sự vật, tức là chứng ngộ Niết Bàn. Tuệ là chính kiến ở mức độ tột cùng. Tại mức độ thấp hơn, chính kiến là sự hiểu biết tổng quát về bản chất của kiếp sinh tồn, là khả năng phân biệt giữa chánh và tà. Chính kiến vì thế là bước đầu và cũng là giai đoạn cuối cùng của Bát Chánh Đạo. Chính tư duy là tư tưởng chân chính. Lời nói và hành động là thể hiện bên ngoài của tư tưởng. Tư tưởng cai trị thế gian. Chỉ có con người mới có khả năng suy tư. Thực hành Chính Tư Duy là dứt bỏ tâm tham ái, tâm sân hận và tâm si mê nhờ đó Tâm được thanh lọc, an trụ.

Bát Chánh Đạo có 8 phần, tùy thuộc và giúp đỡ lẫn nhau; giữa giới, đức và trí tuệ có mối tương quan. Đức Phật đã từng nói: “Cũng như ta có thể dùng tay này để rửa tay kia và chân này để rửa chân kia, giống như thế, giới đức trong sạch làm tăng trưởng trí tuệ, và trí tuệ làm tăng trưởng sự trong sạch của giới đức”.

Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là con đường giải thoát khỏi mọi khổ đau.  

 
 
 
Bình luận
Ý kiến bạn đọc:
tịnh từ, 10/01/2010 14:29:21
bài viết này rất hay. A Di Đà Phật tuy nhiên bổ sung thêm về định nghĩa cho chuẩn hơn, cho rõ cũng được.
Tu tập là sự trở về
Tao, Hành tinh Xanh, 22/03/2008 12:37:24
@Nguoi Gioi: Tu để đắc đạo đương nhiên khó, vì tu tập là sự trở về. Con đường trở về có lúc có đèo, có suối, có trời xanh mây trắng nhưng cũng có lúc có vực sâu núi cao, có thú dữ rình chờ...
Giải thoát khổ đau đương nhiên là việc rất khó vì không thể ngày một ngày hai mà dùng đạo để diệt tập, diệt khổ đau. Nhất là khi cái tập (khí) đã hình thành từ khi ta còn trong bụng mẹ, từ thói quen (anh thế thì tôi thế, nếu A thì B ...) của mấy chục năm sống. Nếu tu dễ, trở về dễ thì Thế giới đã thành Niết Bàn từ lâu.  
Dù rằng đắc đạo rất khó, nhưng ngay cả khi người đi tu chả đến được Niết Bàn, thì ít ra với "con đường" của Phật, cuộc sống cũng nhẹ nhàng đi nhiều lắm.
Thế đấy. Chúc vui!
thanks
Nguoi Gioi, 21/03/2008 20:47:52
Dang boi roi, doc xong tinh ra chut it! Co dieu de dac dao, chac cung kho! Thanks!
Linh tinh về Tập Đế
Tao, Hành tinh Xanh, 21/03/2008 13:57:25
Phần Tập Đế, bác Phạm Văn Tuấn này viết không đạt lắm. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh thì, Tập còn là tập tính, tập khí, là thói quen, nếp sống của ta có được hoặc do di truyền, hoặc do môi trường sống tạo nên. Tập Đế tạo nên Khổ Đế một cách nhân - quả. Muốn không có khổ phải biết tập để sửa tập, để diệt tập. Mà muốn diệt tập thì phải có con đường, đó là Đạo Đế. Có Đạo mới Điệt được Tập, được Khổ. Rất nhân quả.
Thứ bảy, ngày 21/4/2018
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Lẩm & Lẩn
Góc Bạn bè
Đãi chữ - Đãi sách
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait