VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Exercise 23 - Hopes fade for avalanche victims
Hỏi đáp về Môi trường (1)
Exercise 71 - What Does the Average Joe Think?
Mục tiêu của Tao
Exercise 97 - History of baby swimming
Funny Accidents 1
Số lượt truy cập
4332626
Số người đang xem
52


GIÁO DỤC > Smart Way to English > Pi C&E's Translations >


Bài 106 - Liệu bé của tôi có hít phải nước? (Sinh đẻ dưới nước)
Won't my baby inhale Water? (Water Birth)

1 - In short NO.

Ngắn gọn là KHÔNG.

There are 5 inhibitory factors, which prevent a baby from inhaling water when born:

Có 5 yếu tố ngăn ngừa ngăn không cho một đứa trẻ sơ sinh hít phải nước khi được sinh (dưới nước):

The baby in utero is oxygenated through the umbilical cord via the placenta. When a baby breathes air, the intercostal muscles and diaphragm move in a regular and rhythmic pattern. 24 to 48 hours before the onset of labor the prostaglandin E2 levels form the placenta cause a slowing down or stopping in the fetal breathing movements (FBM). The diaphragm and intercostal muscles become suspended and there is a decrease in the FBM. At the birth, the baby’s muscles for breathing simply don’t work.

Đứa bé trong dạ con được cấp oxy qua dây rốn bởi nhau thai. Khi đứa bé hít thở, các cơ liên sườn và cơ hoành chuyển động theo một nhịp điệu chuẩn đều đặn. 24 đến 48 giờ trước khi sinh, mức prostaglandin E2 tác động tới nhau thai làm chậm hoặc dừng hẳn chuyển động hô hấp của của thai nhi. Cơ hoành và các cơ liên sườn bị dừng, và do đó các hoạt ðộng hô hấp của thai nhi suy giảm. Vào thời điểm sinh, hệ cơ dùng để hô hấp của bé đơn giản là không hoạt động.





Prostaglandin E2


2. Babies are born experiencing acute hypoxia or lack of oxygen. This is built in response to the birth process. Hypoxia causes apnea and swallowing, not breathing or gasping.

Trẻ sinh ra trải qua sự giảm oxy-huyết, hoặc thiếu oxi cấp tính. Điều này được hình thành để phù hợp với quá trình sinh nở. Sự giảm oxy-huyết gây ngừng thở và nuốt, không hít thở hay thở hổn hển.

3. The temperature differential is another factor. When a baby is born into water so close to maternal temperature the baby doesn’t detect a change so no breathing is initiated. In some places where an oceanbirth occurs, the water is much cooler than maternal temperature. This is an area for reconsideration since lower temperatures do not seem to stimulate the baby to breathe while immersed either.

Nhiệt độ khác nhau là một yếu tố nữa. Khi đứa trẻ được sinh trong nước cũng có nhiệt độ gần với nhiệt độ cơ thể mẹ nên bé không phát hiện sự thay đổi. Và như vậy sự hô hấp không được kích hoạt. Ở một vài nơi, khi sinh ở biển, nước sẽ lạnh hơn nhiệt độ cơ thể mẹ nhiều. Ðiều này là một lĩnh vực cần nghiên cứu lại, bởi nhiệt độ thấp hơn hình nhưcũng không kích hoạt đứa bé thở khi chìm trong nước.

4. Water is a hypotonic solution and lung fluids present in the fetus are hypertonic. Hypertonic solutions are denser and prevent hypotonic solutions from merging or coming into their presence. Thus, as water passes through the larynx it does not pass into the lungs.

Nước là một dung dịch nhược trương và môi trường chất lỏng ở phổi của trẻ sơ sinh là dung dịch ưu trương. Dung dịch ưu tương dày đặc hơn và cản trở dung dịch nhược trương hòa lẫn vào nó. Như vậy, nếu nước vào miệng thì nó sẽ đi qua thanh quản của trẻ sơ sinh chứ không đi vào phổi.

5. The ‘mammalian dive or autonomic reflex’ built into all newborns is present at birth and mysteriously disappears around 6 to 8 months. This reflex is associated with the taste buds along the larynx. When a solution hits the back of the throat and crosses the larynx, the taste buds interpret what substance it is and the glottis automatically closes: the solution is then swallowed, not inhaled.
 
"Phản xạ lặn của động vật có vú hoặc phản xạ tự trị” được “gài sẵn” ở tất cả trẻ sơ sinh  và biến mất một cách bí ẩn vào khoảng 6 tới 8 tháng. Phản xạ này gắn liền với các núm nhỏ vị giác dọc thanh quản. Khi một dung dịch chạm tới cuống họng và tới thanh quản, các núm vị giác sẽ phân tích xem đó là chất gì và cửa thanh quản tự động đóng lại: dung dịch sẽ được nuốt xuống chứ không phải hít vào.

Source: Birthbuddy
 

Lưu ý: Khái niệm ưu trương, nhược trương:

 

Ưu trương (tiếng Anh: hypertonic) là môi trường mà nồng độ chất hoà tan lớn hơn so với môi trường nội bào. Nếu một tế bào sống được đặt trong môi trường ưu trương so với nó thì sẽ xảy ra hiện tượng co nguyên sinh - nước từ trong tế bào sẽ đi ra ngoài làm cho tế bào bị co (thu nhỏ lại) và nếu co quá nhiều sẽ làm tế bào chết.

 

Môi trường đối ngược với ưu trương là nhược trương (hypotonic) - khi cho vào MT này nước từ ngoài sẽ vào tế bào làm tế bào căng cứng lên và nếu sự chênh lệch quá cao sẽ làm tế bào vỡ - hiện tượng tiêu huyết, và môi trường trung gian là đẳng trương (isotonic).

 

LINK tham khảo về ưu trương và nhược trương. 

LINK tham khảo về Prostaglandin E2
 
Tiếng Việt: Thu Huyền, thành viên E-Bơi  
 
 
Bình luận
Thứ tư, ngày 21/2/2018
Smart Way to English
Introduction
Words given by God
Jokes & Humors
Music & Songs
Videos for Learning
Smart Tips
Useful Websites
Translation Exercises
Pi C&E's Translations
E - BƠI
QUỸ HỌC BỔNG Pi
Tao Pro - Tao Chủ
Kỹ năng thoát hiểm
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait