VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Bạn muốn là nam châm hay mạt sắt???
Bài 56 - Quan sát thị trường - Giá dầu thô giảm dưới 75$/thùng
Bài dịch 34 - Tìm thấy "con ếch cây hiếm nhất" Thế giới
VID 2010 - "Truy tìm Dấu vết Carbon"
Bài dịch 21 - Nào, hãy quan tâm tới củ cải đường hơn một chút!
"Pháp ngược" - Từ bài học của Tuệ Trung Thượng Sĩ
Số lượt truy cập
4174529
Số người đang xem
52


GIÁO DỤC > Tao Pro - Tao Chủ > Sống là khám phá! >


Phất thủ liệu pháp




Phép Chữa Bách Bệnh theo Dịch Cân Kinh


Nguồn gốc: Tương truyền, Đạt Ma tổ sư từ Ấn Độ sang Trung Quốc truyền giáo và lập nên chùa Thiếu Lâm đã phổ biến kinh này cho các đệ tử nhằm tăng cường trí lực để tu tập giáo pháp, bảo vệ võ đường. Phật thủ liệu pháp hay Vẩy tay là phương pháp dễ nhớ, dễ tập nhưng chữa được nhiều bệnh, kể cả các bệnh mạn tính khác nhau, từ suy nhược thần kinh, hen suyễn đến bệnh tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, xương khớp…

Nơi tập: Thoáng mát, không khí trong lành, tránh đứng chỗ gió lùa.

Thời gian tập:
Tập lúc buổi sáng ngủ dậy, chiều trước khi ăn, tối. Trước khi đi ngủ tập nhẹ.

Trang phục: Quần áo rộng rãi, nên dùng đồ cotton.

Lòng tin: Tuyệt đối tin tưởng, tập kiên trì, đều đặn.

Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng, hai chân dang song song ngang vai. Đầu, cổ thả lỏng, vai xuôi tự nhiên, hai mắt khép hờ, các ngón chân bám chặt vào mặt đất, ngực hơi thu vào, hậu môn nhíu lại, đầu lưỡi chạm nướu răng trên, tâm ý hướng về Đan điền (dưới rốn khoảng 3 phân).

Thực hiện: Hai cánh tay, bàn tay và các ngón tay duỗi thẳng tự nhiên. Bàn tay úp về phía sau, Khuỷu tay hơi cong. Vung hai cánh tay về phía trước một cách tự nhiên, tạo với thân mình một góc khoảng 20 – 30o. Dùng lực vẫy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm. Khi hết tầm tay ra phía sau, để hai cánh tay theo đà trở về phía trước. Cứ như thế vẩy tay liên tục, nhiều lần. Tốc độ 60 lần / phút, Tối thiểu 500 cái một lần tập. Mỗi ngày có thể tập 2 đến 3 lần. Nếu để chữa bệnh thì mỗi lần phải vẩy từ 1.500 cái trở lên (khoảng 25 – 30 phút) mới có hiệu quả.

Lưu ý là động tác đưa tay về trước là do phản lực từ phía sau tạo nên (tỷ lệ lực trước 3 sau 7), tuyệt đối không dùng sức. Động tác lắc tay phải bền bỉ, đều đặn, nhẹ nhàng, linh hoạt. Trong suốt quá trình lắc tay, mặc dù cánh tay di động trước sau, nhưng phải luôn duy trì tình trạng thoải mái tự nhiên.

Cách thở: Có thể chọn một trong ba cách: Thở tự nhiên; Hít vào thở ra theo các nhịp đếm chẵn (thở hai thì); Thở bốn thì: 2. 3. 4 hít vào, 5. 6. nín thở, 7. 8. 9 thở ra, 0. 1 nín thở.

Một số điều lưu ý: Người bệnh nặng có thể ngồi vẩy tay, dù đứng hay ngồi nhất thiết phải chú ý bấm ngón chân và thót hậu môn. Bệnh nặng thì vẩy chậm, nhẹ và hẹp vòng, bệnh nhẹ thì vẩy nhanh, dùng sức nhiều và rộng vòng. Đếm thầm, vừa để nhớ, vừa để cho óc được bình tĩnh, tập trung.

Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất. Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư). Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh, thót hậu môn (hạ thực). Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ), tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh).

Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về tâm lý và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng, thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tĩnh, nên cần chú ý đến điểm này.

Cơ chế tác động của Phất thủ liệu pháp:

Phất thủ liệu pháp tác động vào các cơ ngực và thành bụng, nhất là cơ hoành, giúp xoa bóp các nội tạng, thúc đẩy sự vận hành khí huyết và tăng cường chức năng của các cơ quan. Nó cũng có tác dụng khai thông những bế tắc, ứ trệ trong kinh mạch hoặc tạng phủ. Những người tiêu hóa đình trệ sau khi thực hành khoảng 500-700 cái sẽ có trung tiện hoặc ợ hơi, có cảm giác dễ chịu rất rõ. Nó là phương pháp đơn giản nhất để chữa bệnh đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa. Những trường hợp khí nghẽn, khí bế, khí uất do stress, bệnh tật hoặc do tập khí công sai lệch cũng có thể làm cho thông bằng phất thủ liệu pháp.

Theo quan điểm của y học truyền thống và khí công cổ đại, con người và vũ trụ có quan hệ giao hòa thông qua hô hấp. Hai nhà bác học người Pháp Jacqueline Chantereine và Camille Savoire cũng kết luận: "Lực vũ trụ nhập vào con người ở đầu và xuất ra nơi bàn chân phải, âm lực của quả đất nhập vào con người nơi chân trái để lên đến đỉnh đầu ở phía sau ót". Những động tác của phất thủ liệu pháp tuy đơn giản nhưng đã trực tiếp phát huy quy luật này đối với việc chữa bệnh và tăng cường nội khí.

Ở phía trên, động tác hít thở và lắc tay kích hoạt huyệt Bách hội ở đỉnh đầu và Đại chùy ở giữa hai bả vai để thu thiên khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các đường kinh dương. Bách hội và Đại chùy đều là những điểm giao hội của các đường kinh dương và mạch Đốc.

Ở phía dưới, việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống mặt đất kích thích hai huyệt Trường cường và Hội âm ở hai bên hậu môn và tĩnh huyệt của các đường kinh âm. Quan trọng nhất là huyệt Dũng tuyền ở giữa lòng bàn chân và Ẩn bạch ở đầu ngoài móng ngón chân cái. Động tác này có tác dụng hấp thu địa khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các âm kinh.

Theo học thuyết Kinh lạc, dương phải thường giáng và âm phải thường thăng. Vì lắc tay liên tục đến hàng ngàn cái nên khi các đường kinh dương được khai thông và đi dần xuống (Dương giáng) điểm cuối ở đầu ngón chân, chúng sẽ tự động kích hoạt những tĩnh huyệt của kinh âm, khiến các đường kinh này chạy ngược trở lên (âm thăng). Đối với các đường kinh âm cũng vậy, khi chạy đến điểm cuối ở phía trên, nó sẽ lại kích hoạt các đường kinh dương đi trở xuống và cứ thế tiếp tục luân chuyển tuần hoàn trong cơ thể. Đây chính là một biểu hiện của quy luật Cực dương sinh âm và Cực âm sinh dương.

Phất thủ liệu pháp có tác dụng cân bằng âm dương, thuận khí, giáng hư hỏa. Theo y học cổ truyền, khí dương thường thừa mà khí âm thường thiếu. Âm hư có thể do bẩm sinh, hay quá căng thẳng, lo âu trong cuộc sống. Sự mất cân bằng đó là đầu mối của nhiều bệnh tật mà Đông y gọi chung là chứng Âm hư Hỏa vượng (hay sốt về chiều, mờ mắt, mắt đỏ, khô cổ, ù tai, đau lưng, hay lở miệng, hay ho, suyễn, viêm họng, viêm xoang mạn).

Phất thủ liệu pháp có thể chữa các chứng này bằng cách kích thích các đường kinh âm để sinh âm, bồi bổ âm khí. Chính tư thế của liệu pháp cũng bảo đảm nguyên tắc thượng hư hạ thực (như thư giãn phần vai, cứng chắc phần hạ bộ, nhíu hậu môn, bám các đầu ngón chân…) - biện pháp điều trị hữu hiệu với những chứng hư hỏa. Nguyên tắc này đòi hỏi người tập luôn giữ cho phần trên của cơ thể được thư giãn về hình, hư linh về ý. Ngược lại, phần dưới phải đầy đặn, cứng chắc nhằm đưa trung tâm lực của cơ thể dồn xuống.

Phất thủ liệu pháp cũng giúp điều hòa thần kinh giao cảm. Khoa học hiện đại cho biết trên 50% bệnh tật của con người là do những cảm xúc âm tính gây ra. Chính tâm lý căng thẳng do tình chí uất ức hoặc nhịp sống quá nhanh trong một thời gian dài dễ làm thần kinh quá tải, suy nhược và rối loạn. Sự rối loạn này làm cơ thể mệt nhọc, ăn ngủ kém ngon, giảm sức đề kháng, dễ sinh bệnh tật hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đã có. Nếu tập trung tư tưởng vào nhịp lắc tay, người tập sẽ mất đi những cảm xúc khó chịu thường ngày. Đó là nguyên tắc dùng một niệm để chế vạn niệm.

Ai có thể tập Phất thủ liệu pháp?

Phất thủ liệu pháp có tác dụng kích thích, xúc tiến để cơ thể tự khai thông, tự chỉnh lý; nó không vận khí, không cưỡng cầu nên hiếm khi xảy ra sai lệch, vì thế ai cũng có thể tập được.

Phất thủ liệu pháp không làm người tập rơi vào nhập tĩnh nên khó xảy ra trường hợp bị ảo giác làm rối loạn tâm lý. Phất thủ liệu pháp tác động kích thích đồng thời các huyệt bách hội, hội âm và trường cường. Do đó, bách hội và hội âm tạo ra những van an toàn để trung hòa với chân hỏa phát sinh từ trường cường, khó xảy ra trường hợp chênh lệch thái quá giữa âm và dương nên không gây nguy hiểm cho người tập.

Phất thủ liệu pháp tuân thủ nguyên tắc thượng hư hạ thực và tâm ý quán chiếu Đan điền, khiến năng lượng của cơ thể không chạy lên đầu gây tổn thương cho não, không xảy ra những chứng trạng mà người ta thường gọi là tẩu hỏa nhập ma.

Việc đầu lưỡi chạm nướu răng trên và nhíu hậu môn làm nối liền hai mạch Nhâm, Đốc, tạo ra sự thông nhau giữa hai bể khí âm và dương. Sự tương thông này giúp nội khí tuần hoàn trong thân người, điều hòa âm dương và sinh lực giữa lục phủ ngũ tạng.

Trong quá trình tập, tuỳ thể trạng, có thể gặp các phản ứng như: Đau buốt, Tê dại, Lạnh, Nóng, Đầy Hơi, Trung tiện, Ngứa, Ứa nước giải, Ra mồ hôi, Kiến bò, Giật gân, giật thịt, Khớp xương có tiếng kêu lụp cụp …Tuy nhiên, những phản ứng trên sẽ tự chấm dứt sau một vài ngày.
 
Bình luận
Thứ tư, ngày 20/9/2017
Smart Way to English
E - BƠI
QUỸ HỌC BỔNG Pi
Tao Pro - Tao Chủ
Vô chiêu Pro
Hữu chiêu Pro
Sống là khám phá!
Sống là làm giàu
Kỹ năng thoát hiểm
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait