VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Bôngbông ước gì???
Một vài cách làm nổi người
Những điều nên biết khi đến bể bơi công cộng
Từ thiện là tốt nhưng ...
Lão Tao tính làm tiền
Ai cho mày chê con tao xấu?
Số lượt truy cập
4234118
Số người đang xem
38


VĂN HOÁ > DU LỊCH THIỀN > Hồn quê >


Chuyện giần sàng
Bài viết của Võ Hương An

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Việc làm ra hột lúa với công phu một nắng hai sương, rõ ràng là “đắng cay muôn phần”. Thế nhưng từ hột lúa biến thành hột gạo cũng không phải là đơn giản.  Ngày nay, với sự sản xuất gạo số lượng lớn của công nghiệp xay xát, với sự có mặt rộng rãi của các loại máy xay xát cở nhỏ khắp miền quê, việc làm  ra hột gạo quá dễ dàng.  Dễ dàng và tự nhiên cho tới nổi không ai hoài hơi để thử đặt một câu hỏi, đại loại như “không biết cái thời chưa có máy móc, ông bà mình ngày xưa làm sao để có gạo nấu cơm?”

Tại miền nam Việt Nam trước 1975, khoảng cuối thập niên 70, nông thôn bắt đầu  được cơ khí hóa với máy móc nông nghiệp nhập từ Nhật.  Những nhãn hiệu như Kubota, Yanma . . .đã trở thành quen thuộc với nông dân. Nào máy cày tay, máy bơm nước, máy xay xát v.v xuất hiện khắp miền từ Bến Hải tới Cà Mâu.  Khoảng mùa hè năm 1967, có dịp về thăm quê, tôi chợt nhận ra cái cối xay lúa và bộ chày đạp giả gạo, vốn có mặt thường trực tại gian nhà bếp của bác tôi, nay không còn nữa.  Tôi hỏi nó đâu rồi, sao bác không để mà dùng , thì bà cười, trả lời: “Để làm chi cho chật nhà, cháu.  Sẵn cái máy xay lúa của ông Lời ở ngoài xóm đó, chỉ cần bỏ ta mấy đồng bạc là có gạo ăn, xay giả làm chi cho mệt.”

Nói “ngày xưa” cho có vẻ to tát chứ thực ra    nào có xa xôi gì  đâu.  Với cái tuổi  non choẹt như tôi mà còn biết được đôi điều huống hồ là các bậc già cả.  Tuy nhiên, e rằng biết mà không nói ra thì rồi sẽ mai một bởi vì nó đã và đang đi vào dĩ vãng.

Để trở thành “hột gạo trắng ngần”, hột lúa phải qua bốn lần lột xác để đi từ thô (gạo lứt) đến tế ( gạo trắng tinh); đó là xay , sàng , giả và giần .  Mỗi giai đoạn cần một hai loại dụng cụ khác nhau mà nhà nông không nhà nào thiếu.

Thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn . . .

Trong cái nghề làm gạo, việc đâu tiên là phải tách hột gạo ra khỏi cái vỏ cứng của nó.  Người Anh người Mỹ thì gọi “rice” tuốt luốt,  có vỏ cũng “rice” mà không vỏ cũng “rice”, chín hay sống cũng đều “rice” như nhau.  Còn người Việt mình thì tinh tế hơn nhiều. Loại hột thu hoạch từ cây lúa được gọi là hột lúa, và  cái vỏ của hột lúa là vỏ lúa.  Điều này thì hiển nhiên dễ hiểu, dễ nhận. Đến khi vỏ đi đàng vỏ, ruột đi đàng ruột, thì vỏ là vỏ trấu (trú) hay trấu, còn ruột là hột gạo.   Chưa hết, nếu gạo này đem nấu chín thì  gọi là cơm.  Thật là lớp lang chi tiết!

Với dân tộc miền núi biết trồng lúa rẫy, họ chỉ cần một bộ dụng cụ đơn giản là cái cối và cái chày.  Bỏ lúa vào cối giã một hồi cũng tách được gạo ra khỏi vỏ lúa.  Đem sảy cho sạch vỏ lúa thì có ngay gạo để nấu cơm, làm bữa nào ăn bữa đó. Với người Kinh, vốn quá già kinh nghiệm về việc trồng lúa nước, nên dụng cụ làm ra hột gạo cũng có vẻ cao kỹ (hightech !) hơn , do đó cái cối xay lúa ra đời !  Cái cối xay lúa, khi hoạt động cũng có vẻ máy móc lắm.  Cối được chế tạo bằng ba loại vật liệu thông dụng : tre, đất sét và gỗ (thường là gỗ nhãn). Mời bạn đọc liếc sơ cái hình vẽ để người viết dễ thưa chuyện.

Cối gồm có hai phần chính: thớt trên và thớt dưới.  Thớt dưới cố định, ở trung tâm có một cái chốt (trục) dài chừng ba tấc, đường kính chừng 3 phân, dùng làm trục quay cho thớt trên.
 



Hình trên: Cối xay lúa, vẽ theo trí nhớ.
Hình dưới: Cảnh xay lúa (ở miền Bắc), theo P.Huard & M. Durand trong Connaissance du VietNam, p.130.




Cả thớt trên lẫn thớt dưới đều đan bằng tre, đường kính bằng nhau, chừng 40-50cm, nhưng thớt trên cao hơn thớt dưới, thường gấp đôi.  Lưng chừng thớt trên có một thanh gỗ xỏ ngang, hai đầu thò ra ngoài, mỗi bên chừng 2 tấc, có đục một cái lổ tròn để tra cái giàn xay vào.  Thanh gỗ này, có hai công dụng: bên ngoài thì làm tay quay, còn bên trong thì giúp cho  cái ổ quay được chắc chắn vững vàng hơn.

Bên trong cả hai thớt đều được nong đầy bằng đất sét.  Mặt trên của thớt trên , đất sét được khoét thành hình miệng phểu, có một lổ thông xuống thớt dưới để làm đường dẫn lúa đi xuống.  Hai mặt tiếp xúc của thớt trên và thớt dưới đều có gắn răng cối để khi ma sát thì làm vỡ vỏ lúa, phóng thích hột gạo ra ngoài. Vì cả hai mặt cùng ma sát nên cùng chịu mòn như nhau.  Từ ý nghĩa đó, thành ngữ thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn được dân ta dùng để diễn tả cái ý cả hai bên đều thiệt thòi hao tốn như nhau khi ganh đua hay tranh chấp về một việc gì đó.

Răng cối là những mảnh gỗ (nhãn) sắp xếp theo chiều thẳng đứng (kiểu trồng răng) với một kiểu thức khéo léo khiến cho khi xay, hai mặt thớt ma sát làm vỡ vỏ lúa mà không làm nát gạo.  Một ông thợ đóng cối xay giỏi là người nắm được bí quyết sắp xếp hai hàm răng gỗ đó để đạt mục đích vừa nói.  Người ta cưa thân cây nhãn ra thành từng tấm như tấm thớt, dày chừng 7,8 phân.  Đoạn dùng cái chàng của thợ mộc để xắn ra từng miếng lớn nhỏ tùy theo nhu cầu, dày chừng 5-7mm, rối trồng xuống mặt thớt khi đất sét còn ướt.   Dĩ nhiên cũng phải chèn cho kỹ để răng đứng vững khi ma sát.

Thớt dưới được đan liền với một cái bầu bao bọc chung quanh để hứng gạo đã xay ra.  Bầu lại có một chừa một lổ hổng để lùa gạo xuống.  Toàn bộ thớt trên và thớt dưới “ngự” vững vàng trên một cái giá gỗ hình chữ thập. Phải công nhận là dụng cụ được thiết kế một cách khá chu đáo.

Thế nào là một cái cối xay tốt?  Đó là một cái cối nặng để ngồi vững vàng trên mặt đất nhưng khi xay thì lại chuyển vận nhẹ nhàng, đở tốn sức.  Đặc điểm quan trọng nhất, ngoài sự bền chắc, là cối xay sạch lúa (nghĩa là số lúa còn sót lại ít) và không làm nát gạo.

Khi kỹ nghệ xe hơi ra đời thì mới phát sinh cái nghề sửa xe và mở garage. Cũng một cách như thế, khi cái cối xay lúa còn đắc dụng khắp nơi thì phải có thợ sửa cối xay lúa. Đa số những ông thợ sửa cối xay đã là những “phó cối” (thợ đóng cối xay), tuy nhiên cũng có người đóng cối xay không được nhưng lại biết cách sửa, phần lớn là sửa răng cối vì đó là bộ phận làm việc nhiều nhất nên dễ hao mòn hư hỏng. Những ông thợ này phải quảy cả gánh đồ nghề, lang thang khắp hang cùng ngõ hẽm vùng quê để hành nghề khi mùa màng rảnh rổi, họ vừa làm thợ mộc vừa làm thợ tre.

Lúa phơi khô quạt sạch được đổ vào cối.  Người ta tra cái giàn xay vào tay quay và vận sức để quay cái thớt trên.  Khi mới khởi động thì phải tốn sức nhiều, cũng kiểu như xe hơi khi mới bắt đầu chạy, vì khá nặng nề, nhưng khi xay đã có đà thì  có phần bớt nhọc nhằn hơn.  Để đở tốn sức nâng giữ cái giàn xay, người ta cột một đầu của giàn xay lên cái đòn tay của mái tranh.  Chẳng phải là máy móc gì ghê gớm lắm nhưng khi xay lúa, sự ma sát cũng tạo nên một thứ tiếng động nghe ù-ù như tiếng sấm ầm ì từ xa vang tới.

Người Việt mình có thú chơi câu đố, trong thể loại này có cái món “đố tục giảng thanh” nghĩa là câu đố khi nói ra nghe rất thô tục, nhưng khi giảng giải rồi thì chẳng có gì là “ghê gớm” cả, chỉ là những đồ vật tầm thường, quen thuộc trong đời sống nhưng được nhìn dưới một góc cạnh “tiếu lâm” hơn. Vì vậy, thể loại này thường rất được bà con ưa thích, bởi có dịp cười đùa thoải mái khi tùng tam tụ ngũ.  Trong cái mớ thô tục đó, tôi còn nhớ được câu này:

Ôn(g) nằm dưới xỏ c... lên,
Mụ nằm trên rên ầm ầm.

Ấy, người ta đố cái cối xay lúa đó. Thông minh và dí dỏm lắm chứ!

Ở nông thôn, đủ thứ việc trong nhà, việc ngoài đồng, đòi hỏi mọi thành viên trong gia đình chung tay mà làm, tùy  sức, tùy tuổi: nào chăn trâu, cắt cỏ, xay lúa, giả gạo, bồng em, băm chuối, nấu cám heo v.v. Việc nào cũng là việc, anh chị em chia nhau mà làm, sao cho công bằng hợp lý, để ai nấy cùng vui lòng, cho nên  xay lúa thì khỏi bồng em, một nguyên tắc phân công đơn giản và công bằng.

Lọt sàng xuống nia

Gạo xay ra lẫn lộn với vỏ trấu và lúa  còn sót lại.  Việc đầu tiên là phải tách trấu ra khỏi  gạo.  Tùy theo số lượng gạo làm ra nhiều hay ít, tùy theo gia cảnh của người làm gạo giàu hay nghèo mà người ta sử dụng những phương tiện khác nhau khi muốn loại vỏ trấu ra khỏi gạo.

Nhà giàu, có nhiều lúa thì phải sắm cái xa quạt (xe quạt lúa), đóng bằng gỗ. Đại khái đó là một cái thùng hình khối chữ nhật, có 4 chân đứng, ở trên là một miệng phểu hình vuông để đổ lúa vào, ở dưới là một cái máng gỗ cho lúa tuôn ra.  Lưng chừng là lá quạt với bốn hay 6 cánh bằng gỗ mỏng gắn vào một cái trục. có tay quay ăn thông ra ngoài.  Người ta quay tay quay, tạo thành sức gió để tống rơm rác, lúa lép và vỏ trấu ra ngoài xa, còn lúa tốt hoặc gạo nặng hơn sẽ rơi gần hơn, theo cái máng gỗ đi xuống cái thúng để hứng sẵn.

Nhà nào không có xa quạt thì mượn sức gió để gie lúa, gie gạo, nếu gặp ngày có gió.  Gie lúa là tách lúa lép và rơm rác ra khỏi lúa chắc;  gie gạo là tách trấu ra khỏi gạo. Đứng thẳng góc vói hướng gió thổi, người ta nâng thúng gạo mới xay lên cao và từ từ trút xuống.  Vỏ trấu nhẹ hơn sẽ được gió thổi ra xa, còn gạo và lúa nặng hơn sẽ tách ra rơi xuống gần hơn.

Thông thường, người ta làm sạch trấu bằng cách sãy gạo với cái nia.

Nia là đồ dùng bằng tre, hình tròn, phẳng, đường kính chừng 1m, đan kín mặt, chung quanh có cạp vành tre .  Nếu bạn đã có dịp thấy cái mẹt (hay cái trẹt), thì nia chính là cái mẹt phóng lớn ra.

Sảy là động tác tung mớ gạo mới xay lên rồi hứng lại.  Trong khi rơi xuống, thành phần gạo và lúa vì nặng hơn nên rơi  trước và rơi gần, được hứng lại trên nia, còn vỏ trấu thuộc thành phần nhẹ hơn, bay xa hơn và cho rơi xuống đất. 


 

 



Sảy lúa bằng nia, theo P.Huard & M.Durand trong Connaissance du VietNam (p.129).  Sảy gạo sau khi xay cũng cùng một cách như thế.

Sau khi đã loại được trấu ra khỏi gạo, lại còn phải loại lúa còn sót (khá nhiều) trong gạo. Đến giai đoạn này người ta cần đến cái sàng. Sàng là đồ dùng đan bằng tre, có mặt phẳng, đường kính chừng 5 tấc, với vành tre nhỏ cạp chung quanh. Sàng có lổ thưa để lọt hột gạo nhưng không cho lúa lọt xuống.

Nếu sảy là một động tác tung hứng thì sàng  là động tác xoay tròn cái sàng theo chiều kim đồng hồ để cho lúa dần dần nổi lên trên, nhóm vào giữa, còn gạo thì lọt xuống nia.

Một cái sàng đan khéo, ngoài đặc điểm bền  chắc , còn phải canh sao cho các lổ sàng để lọt hột gạo mà không cho lúa đi qua.  Có cái sàng tốt nhưng gặp người không biết sàng thì  việc làm gạo cũng mất năng suất.  Nhìn một người thiện nghệ sàng gạo cũng như thưởng thức một vũ điệu đẹp chốn thôn dã:  người phụ  nữ nhẹ nhàng đưa cái sàng chuyển động theo vòng tròn, nhịp nhàng , uyển chuyển; trên mặt sàng thì gạo chuyển động như hình một cơn bão  mà tâm bão là nơi lúa nổi lên và nhóm lại, còn  dưới sàng thì gạo rơi xuống rào rào như mưa.  Người không biết sàng không làm được điều đó, nghĩa là gạo có rơi xuống nhưng lúa không nổi lên và không nhóm lại.

Như bạn thấy đó, khi sàng, người ta không những chỉ có sàng, mà còn sảy và lắc nữa, nghĩa làm đủ mọi động tác để cho gạo rơi hết xuống nia, chỉ còn lại lúa trên sàng mà thôi.  Ấy vậy mà vẫn còn những hột gạo trên sàng, rõ ràng đó là những hột gạo”cao số”.  Cũng thế, nếu bạn đã từng xông pha tên đạn, trải qua bao gian nan nguy hiểm mà vẫn tai qua nạn khỏi,  vẫn mạnh khỏe và  sống nhăn với vợ con tới giờ, trong khi bạn bè, bà con, đã có rất nhiều người nằm xuống, thì bạn đúng là hột gạo trên sàng.  Thành ngữ thật là mộc mạc nhưng nghe diễn cảm và gợi hình.

Hột gạo trắng ngần

Sau khi sàng sảy thì coi như đã có  gạo trong tay, nghĩa là có thể đã có cơm ăn.  Nhưng đó là gạo lứt.  Mãi đến giữa thế kỹ 20 khi phương pháp dưỡng sinh “gạo lứt, muối mè” của Osawa ra đời thì người ta mới biết đến giá trị của gạo lứt, còn trước kia, ngay cả nhà nghèo, người ta cũng chưa ăn cơm với loại gạo này.  Gạo cần phải trải qua giai đoạn chế biến thứ ba, đó là giã gạo cho trắng.

Dụng cụ dùng để giã gạo là cái cối và cái chày.  Người ta thường giã gạo bằng chày vồ hoặc chày đạp vì lối giã này có năng suất cao, nghĩa là giã được nhiều (vì cối lớn) và nhanh vì có thể hai hoặc nhiều người cùng làm.




Cối và chày vồ,vẽ theo trí nhớ.


Bộ cối chày vồ gồm một cối với bốn chày, nhưng không phải bao giờ cũng sử dụng hết bốn chày.  Cối  được để tự nhiên trên mặt đất, chung quanh có lót  đồ để hứng gạo rơi vải.  Người giã đứng chung quanh , lần lượt giáng chày xuống  theo một nhịp điệu nhịp nhàng, đều đặn.  Nhờ thay phiên nhau mà giã, có lúc làm lúc nghỉ, nên lối giả này nhanh mà ít nhọc người, lại có bạn cùng làm nên mọi người đều vui vẻ.

Bộ cối chày  đạp thì trông đồ sộ hơn và có vẻ máy móc hơn.  Cối không để nằm khơi khơi trên mặt đất mà lại chôn xuống 2/3, chừa lại cái vành miệng .  Khi giã cũng phải lót đồ chung quanh để hứng gạo đổ.  Chày là một  cây gỗ dài chừng 3m-3,5m, có đường kính khoảng 2 tấc, cũng có thể là một cây gỗ vuông cùng cở, một đầu gắn cái chày lớn (đường kính 15-20cm) dài chừng 5 hay 6 tấc, còn đàng kia thì được  vạt cho lép bớt đi và khía lát chả, làm chỗ cho người giã đạp chân xuống.  Chày chuyển động chung quanh một cái trục nằm ngang.  Trục được gắn vào hai cây cột thấp, chôn chặt xuống đất.

Ở vị trí đuôi chày, người ta phải đào một cái hố, bề ngang chừng 4 tấc và sâu khoảng 5 tấc để khi đạp chân thì đuôi chày mới có chỗ hạ thấp xuống làm cho đầu chày ngóc cao lên cao rồi rơi xuống, tạo thành động tác giã gạo.  Khi giã, thường phải hai người mới có đủ sức nặng mà đạp  cái chày cho nó ngóc đầu lên. Có khi trong nhà neo người thì trẻ con 9, 10 tuổi cũng có thể phụ đạp chày với người lớn.  Người giã phải bám vào sợi thừng buông xuống từ xà nhà thì mới có thế  đạp chày mà không bị ngã.  Nhờ cối to, chày nặng nên mỗi lần giã,  gạo đã nhiều mà lại mau trắng.  Còn trẻ con thì bu lưng người lớn mà đạp, coi như một trò chơi hơn là làm việc.

Cũng như đa số các loại hột khác, hột gạo có một lớp vỏ lụa màu nâu bao bọc chung quanh.  Lớp vỏ này làm cho hột gạo mất đẹp, nấu lâu chín, ăn cứng cơm và nhám miệng.  Mặc dầu về sau này người ta đã khám phá ra rằng chính lớp vỏ lụa này là nguồn vitamin, trong đó đứng đầu là B1, nhưng từ xưa tới giờ, bao giờ người ta cũng tìm mọi cách làm sạch cái lớp vỏ lụa đó để cho hột gạo trắng trẻo, trông ngon lành hơn, tránh được những khuyết điểm vừa nói.  Lớp vỏ lụa tróc ra thành những mảnh nhỏ li ti, gọi là cám.  Gạo đã giã xong, nghĩa là đã đạt độ trắng nhiều hay ít tùy người dùng, nhưng còn lẫn với cám và vỏ trấu cùng gạo vỡ vụn (đó là tấm, broken rice) nên cần phải được làm sạch bằng cách giần và sảy. 

 

 
Cảnh giã gạo và giần gạo, theo P.Huard & M. Durand trong Connaissance du VietNam, p.131.
 

Hột gạo trên . . . giần

Ở giai đoạn cuối cùng của việc làm gạo, người ta phải giần gạo để tách gạo ra khởi tấm, cám và vỏ trấu vụn.

Giần là đồ dùng bằng tre, cách cấu tạo và kích thuóc, hình dáng, y hệt cái sàng, chỉ trừ một điểm: lỗ giần nhỏ hơn lổ sàn, chỉ cho tấm cám đi qua mà giữ lại  gạo.

Động tác giần cũng y như động tác sàng.  Trong khi xoay cái giần, tấm, cám và vỏ trấu vụn sẽ rơi xuống nia, những hột lúa còn sót lại sẽ dần dần nhóm trên mặt, và được nhặt đi.  Trong khi giần, thỉnh thoảng người ta cũng sảy vài cái để giúp  đẩy bớt vỏ trấu vụn ra ngoài.  Chính vì cám thường có lẫn vỏ trấu vụn, ăn không được, nên cám chỉ dùng để nấu cám heo.  Con heo mập không nhờ chuối cây hay bèo băm vụn  mà chính là nhờ cám, phó sản từ việc làm gạo.  Bèo hay chuối cây  chẳng qua chỉ là chất độn để đánh lừa bao tử của heo chứ chẳng bổ báo gì.

Nghề hàng xáo
 

           
Do nhu cầu làm ra hột gạo mà nảy sinh ra nghề đóng cối xay lúa và sửa cối xay.  Bên cạnh đó còn có nghề hàng xáo, là nghề làm ra gạo để bán cho những người cần có gạo ăn nhưng không có thì giờ và phương tiện làm ra gạo.

Cũng như hầu hết mọi nghề cổ truyền khác, đây là nghề thuộc loại “lấy công làm lời”.  Sẵn đồ nghề làm gạo trong nhà, lại sẵn nhân lực, thế là họ mua lúa về, cả nhà xúm nhau lại xay, giã, giần, sàng, rồi gánh gạo đi bán rong. Ngoài hai thúng gạo đầy ở hai đầu, một gánh gạo rong còn có thêm hai cái mẹt để đậy gạo, hai  cái mũng  dùng san sớt gạo khi bán , và một cặp ô, ống hay lon sữa bò, là dụng cụ đong lường.

Ô là một cái bát (tô) tiện bằng gỗ mít, dùng để đong gạo;  còn ống là một lóng tre dài chừng 3 tấc, đường kinh chừng 3 phân, dùng để gạt gạo phẳng ngang miệng ô.

Tôi chưa tìm ra một tài liệu nào của chính quyền xưa qui định về kích thước của cái ô.  Bằng kinh nghiệm thực tế, tôi thấy cái ô mà các cô các bà dùng khi bán gạo có kích thước chẳng đồng nhất tí nào, cái sâu cái cạn, cái lớn cái bé, tuy rằng độ sâu cạn và lớn bé này không cách biệt nhau nhiều lắm.  Nói chung, cái ô thường có đường kinh chừng 15-17cm và sâu chừng 4-cm.  Còn cái ống để gạt, thường người ta dùng loại tre mỏng vỏ hoặc nứa hay lồ-ô để cho ống được nhẹ.  Một trong những tiêu chuẩn để người tiêu thụ chọn người bán là cái ô đong gạo.  Nếu người bán có cái ô “nơi nới” hay “trộng trộng” (hơi lớn, lớn lớn) một chút thì được ưa chuộng hơn.  Nếu bạn thấy một bà bán gạo có cặp ô ống sẫm màu, lên nước láng bóng thì biết đó là bậc đã lên hàng sư tỉ hay sư mẫu trong nghề hàng xáo rồi đó.  Có khi người mua không đủ tiền để mua 5, 10 hay vài chục ô gạo mà chỉ mua tới số lẻ, chẳng hạn hai ô rưỡi  hay hai ô một phần tư thì người bán đong làm sao? Rất dễ dàng, họ đong nguyên ô rồi dùng tay móc bớt đi một nửa ô, đoạn móc bớt một nửa nữa là còn y một phần tư.  Cái tài tình là họ làm rất nhanh và chính xác tới độ gạo còn lại trong ô vẫn đứng phắc như cái bánh được cắt bằng dao!

Ô ống là dụng cụ đong gạo truyền thống.  Từ ngày tiếp xúc với Tây phương, cái lon sữa bò trở thành một dụng cụ đong lường mới, phổ biến từ Nam chí Bắc và dần dần làm cho ô ống biến mất.

Với ô và ống, cả người mua lẫn người bán chẳng gian dối gì được, vì không làm biếng dạng cái ô được, chỉ có việc đong đầy gạt sát mà thôi.  Với cái lon sữa bò thì lại khác.  Lon làm bằng kim loại mỏng nên người mua và người bán có thể làm biếng dạng cái đáy lon để thủ lợi.  Ngưới bán bao giờ cũng muốn đong non, nên đáy lon được gò cho gồ lên bên trong để giảm bớt thể tích của lon, ở quê tôi gọi là lon tộn(g) lên.  Còn người mua thì ngược lại, bao giờ cũng muốn đong già bằng cách dộng cho đáy lon thụng xuống để tăng thể tích, đó là lon tộn(g) xuống.  Gặp khi được mùa, giá gạo rẻ, người bán sẽ chiêu khách bằng cách bán gạo lon tộn(g), dĩ nhiên là lon tộn(g) xuống.

Chưa hết, người ta còn ăn gian ở cách gạt gạo nữa.  Vì đong gạo bằng lon nên thay vì dùng ống người ta dùng ngón tay để gạt (ngón trỏ hoặc ngón giữa hoặc cả hai).  Nếu để ngón tay thẳng mà gạt thì không nói làm gì, ở đây người bán lại ưỡn ngón tay ra, thành ra khi gạt thì mặt gạo lõm xuống, lợi được vài chục hột (!!).  Còn người mua khi gạt thì cong cong ngón tay lại, thành ra mặt gạo vổng lên, cũng lợi được vài chục hột (!!).  Chẳng qua cũng do cái tội nghèo mà đi tìm cái lợi cò con.  Do cái lối làm ăn như thế nên việc mua bán một mớ gạo thường mất rất nhiều thì giờ vì hai bên mua và bán cứ đong đi đong lại để ăn chắc rằng mình không bị thiệt!

Bài viết của Võ Hương An  đăng trên khoahoc.net (5/11/2004)
 
 
 
 
Bình luận
Thứ ba, ngày 21/11/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Hồn quê
Miền Bắc
Miền Trung
Miền Nam
Các miền đất khác
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait