VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Chuyện ngụ ngôn Rùa và Thỏ
Funny Football Moments
Cuộc tình tuyệt chủng
Dạy trẻ nhỏ chìm đầu dưới nước
Cuống thì chết là chắc
Misunderstanding
Số lượt truy cập
4175718
Số người đang xem
24


VĂN HOÁ > DU LỊCH THIỀN > Hồn quê >


Sự tích ông Táo ...




Táo Công - Ảnh sưu tầm từ Internet



hay là sự tích ba ông đầu rau

Cứ vào 23 tháng 12 Âm lịch, mọi nhà thường làm mâm cơm tiễn đưa ông Công, ông Táo về trời. Cùng với mâm cơm, nhiều nhà còn làm lễ hoá vàng, rồi gom tro, chân hương mang cùng một đôi cá chép ra sông thả. Ai cũng mong ông Táo cưỡi cá chép nhanh nhanh về Trời báo cáo với Ngọc Hoàng về cuộc sống ấm no của gia đình mình trong năm. 

Đã thành lệ tiễn ông Công, ông Táo vào cuối năm, nhưng nhiều người sống ở thành phố, quen dùng bếp ga, bếp điện nên không biết về sự tích ông Táo - ông Thần Bếp hay ba ông đầu rau (3 hòn gạch/đá kê bếp để đặt nồi đun). Và người ta cứ quen mồm nói "Tết ông Công, ông Táo", nhưng mấy ai biết ông Công, ông Táo là ai. Đó là một hay hai người, rồi tại sao lại  cúng cá chép? ...           




Ba "ông vua bếp" là 3 cục đất sét tạo thành chiếc kiềng - Ảnh sưu tầm từ Internet,
(từ Bảo tàng tư nhân về Nông cụ Việt Nam của bác Trần Phú Sơn
ở Vân Hồ Hà Nội)  


Về ông Táo, chuyện xưa kể rằng:

Ngày xưa, có hai vợ chồng son nhà nghèo. Họ đều sinh nhai bằng nghề làm thuê làm mướn. Tuy nghèo nhưng họ rất yêu nhau. Thường buổi tối sau khi đi làm về, hai vợ chồng ngồi bên bếp lửa hay dưới ánh trăng kể cho nhau những chuyện xa gần mới nghe được, hay hát những câu tình duyên, có khi vui vẻ quên cả cơm nước.

Một năm trời làm mất mùa, hạt gạo kiếm rất khó khăn. Tình trạng đói kém diễn ra khắp mọi miền. Hai vợ chồng theo lệ cũ đi tìm việc ở các nhà giàu nhưng chả mấy ai thuê nữa. Người vay công lĩnh nợ thì đông mà gạo rất khan hiếm nên khó chen vào lọt. Hơn nữa, cổng mấy lão trọc phú lại thường đóng chặt vì chúng không muốn cho ai quấy nhiễu. Túng thế hai vợ chồng phải đi mò cua bắt ốc, hoặc đào củ, hái rau về ăn. Tuy có đỡ phần nào nhưng tình thế vẫn không mảy may sáng sủa. Cái chết luôn luôn đe dọa họ vì trận đói còn kéo dài. Một buổi chiều, sau khi húp vội mấy bát canh rau má, chồng bảo vợ:

- Tôi phải đi một nơi khác kiếm ăn, không thể ở nhà được.

Nghe chồng nói, người đàn bà đòi đi theo để sống chết cho có bạn. Nhưng người chồng bảo:

- Tôi chưa biết sẽ đi đến đâu và sẽ phải làm những gì. Nàng ở nhà dễ sống hơn tôi, không nên theo làm gì cho vất vả. Chưa biết chừng tôi sẽ nằm lại dọc đường để cho loài chim đến than khóc. Nhưng cũng chưa biết chừng tôi lại mang những quan tiền tốt bó mo về đây nuôi nàng cũng nên! Chao ôi! Số mệnh! Nàng hãy chờ tôi trong ba năm, nghe! Hết ba năm không thấy tôi trở về ấy là tôi đã bỏ xác quê người. Nàng cứ việc đi lấy chồng khác.

Người vợ khóc lóc thảm thiết như đứng trước cảnh tang tóc thực sự. Nhưng không biết làm thế nào cả, nàng đành phải để chồng ra đi. Sau khi tiễn chồng, người đàn bà kiếm được việc làm ở một nhà kia. Nhà họ không giàu gì nhưng thương cảnh ngộ nàng, có ý giúp đỡ cho qua những ngày thảm đạm. Ở đây, người đàn bà kiếm mỗi ngày hai bữa, trong đó có một bữa cháo bữa khoai. Nhờ lanh lẹn và xinh xắn nên nàng lấy được cảm tình của chủ. Nhưng hình dáng người chồng thân yêu không bao giờ phai nhạt trong tâm trí nàng.

Thời gian trôi nhanh như nước chảy. Người ta đã bớt nhắc đến trận đói khốc liệt vừa qua. Nàng thì ngày ngày hồi hộp chờ đợi chồng. Nhưng cây bưởi trước sân đã ba lần trổ hoa mà chồng nàng vẫn không thấy tăm dạng. Giữa lúc ấy người chủ đã từng bao bọc nàng trong lúc đói, vừa chết vợ. Sẵn có cảm tình với nàng, người ấy ngỏ ý muốn được nối duyên cùng nàng. Nhưng người ấy đâu có hiểu được lòng của người thiếu phụ. Câu trả lời của nàng là:

- Chồng tôi hẹn tôi trong ba năm sẽ về. Đến bây giờ tôi mới tin là chồng tôi đã chết. Vậy cho tôi để tang chồng trong ba năm cho trọn đạo.

Ba năm nữa lại trôi qua một cách chóng vánh. Không một nét chữ, một lời đồn về người xấu số. Hàng ngày, những buổi chiều tà, nàng vẫn đăm đăm nhìn bóng người đi lại trên con đường cái quan. Và rồi nàng khóc cạn cả nước mắt. Người đàn ông kia giục nàng quyết định:



 

Dùng gạch làm ông đầu rau để nấu bánh chưng - Ảnh sưu tầm từ Internet


- Một là chồng nàng đã chết, hai là còn sống nhưng đã lập một gia đình khác ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Đằng nào nàng cũng khó mong tái hợp. Âu là cùng tôi lập một gia đình mới. Sức của tôi và của của tôi đủ bảo đảm cho nàng sung sướng trọn đời.

Nàng sửa lại vành khăn trắng đã ngả màu, cảm ơn hậu tình của anh ta và xin rốn chờ cho một năm nữa. Một năm nữa lại trôi qua không mang lại một tin tức gì mới mẻ. Lần này nàng mới tin là chồng mình chết thật. Sau một bữa rượu cúng chồng và đãi họ hàng làng xóm, nàng đến ở cùng người chồng mới.

Đột nhiên sau đó ba tháng, người chồng cũ xách khăn gói trở về quê hương. Chàng không có vẻ gì khấm khá hơn trước. Chàng chỉ ôm một hy vọng là được gặp lại người vợ yêu. Nhưng vườn cũ nay đã thuộc về chủ mới. Chàng lẩm bẩm: "Thế là hết. Bởi số cả!". Việc người đàn ông đột ngột trở về làm cho mọi người ngơ ngác. Nhất là đôi vợ chồng mới cưới không biết ăn nói làm sao bây giờ. Người đàn bà xấu hổ không dám dàn mặt. Nhưng người chồng cũ đã tìm đến họ và an ủi họ.

- Tôi đi vắng lâu quá. Cái đó hoàn toàn là lỗi ở tôi. Nàng xử sự như thế rất đúng. Tôi chỉ cần về gặp nàng một chút. Thế là đủ. Bây giờ tôi sẽ đi khỏi nơi này mãi mãi.

Mặc dầu người vợ nài nỉ hết sức, mặc dầu người chồng mới đoan xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết dứt áo ra đi. Chàng không nỡ phá hạnh phúc của họ. Mà chàng cũng không có gan đi đâu xa vì không thể quên được vợ cũ. Băn khoăn dằn vặt hành hạ tâm trí chàng. Đầu óc rối như mớ bòng bong. Chàng nghĩ đến cái chết và trong một lúc cuồng loạn, chàng tự treo cổ lên cây đa đầu làng.

Cái chết kinh khủng đó như một tiếng sét nổ vào đầu người đàn bà. Nàng cảm thấy chính mình là thủ phạm gây ra cái chết của người chồng cũ. Tại sao ta chờ chồng được bảy năm trời mà không rán chờ thêm ít lâu nữa? Tại sao thấy chồng trở về, ta không dám giáp mặt? Nàng không tự chủ được nữa. Tất cả những câu hỏi như lên án một cách âm thầm nhưng kịch liệt trong đầu óc nàng.

Thế rồi buổi sáng hôm sau, trong khi người ta sắp sửa cất đám người đàn ông bạc mệnh thì người ta lại hoảng hốt kéo nhau đi vớt tử thi người đàn bà dưới cái ao bên cạnh nhà. Người chồng mới sau khi làm ma cho vợ, trở nên như người mất trí. Hai cái chết đánh mạnh vào đầu óc mọi người, riêng đối với chàng chưa bao giờ có một sự xúc động dữ dội đến như thế. Chàng luôn miệng kêu to: "Tại sao ta cố ý cướp vợ của người khác". Rồi một hôm, sau khi đem hết gia sản chia cho họ hàng và cúng vào chùa, chàng uống thuốc độc tự tử.

Lúc xuống đến thế giới bên kia, cả ba người đều được đưa tới trước tòa án của Diêm vương để định công luận tội. Tất cả mọi người một khi đã đến đây đều phải khai rõ sự thật ôm ấp trong lòng. Theo lời khai của người chồng cũ thì chàng không thể nào xa lìa vợ cũ. Chàng sở dĩ chết ở làng là chỉ mong luôn luôn được gần gũi nàng. Người chồng mới cũng khai rằng chàng có cảm tình rất sâu xa đối với người vợ mới mặc dầu mới chính thức lấy nhau chỉ có ba tháng. Khi Diêm vương hỏi tình của chàng đối với người vợ cũ như thế nào thì chàng giơ ngón tay so sánh rằng một bên mười, một bên chưa được một. Đến lượt người đàn bà thì nàng thú thật rằng cái tình của nàng đối với chồng cũ choán một chỗ rộng rãi trong lòng mình, đồng thời đối với người chồng mới, nàng cũng không thể nào quên được tình cảm nồng nhiệt của chàng.

Diêm vương ngồi nghe rất cảm động. Những người như thế này cũng thật hiếm có. Cần phải làm cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi mãi. Sau một hồi lâu suy nghĩ, Diêm vương cho ba người hóa thành ba ông đầu rau để cho họ khỏi lìa nhau và để cho ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của họ. Đồng thời vua còn phong cho họ chức Táo quân trông nom từng bếp một, nghĩa là từng gia đình một trên trần thế.

(Trích "Sự tích đất nước Việt" - Nguyễn Đổng Chi)
 

Theo tiếng Hán, Táo nghĩa là "bếp". Táo quân hay ông Táo nghĩa là "ông quản bếp", "ông vua bếp". Gọi là ông Táo nhưng đó lại là 3 ông đầu rau gồm hai ông, một bà.

Hiện có rất nhiều giải thích khác nhau về ông Táo. Một số nơi cho rằng ông Táo gồm: Thổ Công (trông nom bếp núc???), Thổ Địa (trông nom việc nhà???) và Thổ Kỳ (trông nom việc chợ búa???). Và Táo quân về trời tức là Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ về trời???. Họ còn cho là Thổ Công là chồng mới, Thổ Địa là chồng cũ của Thổ Kỳ.  

Nhưng một số nơi khác cho rằng ông Công là Thổ thần hay Địa Thần, trông coi, cai quản đất đai, không thể là ông Táo (3 ông đầu rau - một bà và hai ông). Ông Công được cúng nhiều lần trong năm, khi động thổ, khởi công, hay làm việc gì đó đụng chạm đến đất cát, còn ông Táo chỉ được cúng một lần trong năm, vào ngày 23 tháng 12 Âm lịch. Có nơi ông Táo được cúng ở bếp còn, ông Công được cúng ngoài trời, còn gia tiên được cúng trên bàn thờ gia tiên trong nhà. Cũng có nơi, ông Công được cúng cùng gia tiên trên một bàn thờ. Vì thế cần ít nhất hai bàn thờ và hai cá chép thả sông ...

Việc "ông Công" và "ông Táo" được cúng tiễn vào cùng một ngày có thể giải thích rằng: Công là từ rút gọn của Táo công, hay Công là từ rút gọn của Thổ công. Cách giải thích thứ nhất xem ra có lý hơn bởi nếu theo cách thứ hai thì khó có thể lý giải vì sao lễ tiễn ông Công lại trùng với lễ tiễn ông Táo?!  Nhưng cũng có thể ông Công cùng lên Trời với ông Táo. Ông Công báo cáo về việc cai quản đất đai, ông Táo báo cáo về việc bếp núc ...
 
Còn thấy bảo trong 3 ông đầu rau (ông Táo), có một hòn to hơn hai hòn kia. Hòn to chắc chắn tượng trưng cho "sếp bà"! Nếu đúng thế, các cụ nhà ta hồi xưa đã rất tân tiến, đã rất coi trọng nữ giới. Và có thể vì thế mà chỉ ở Việt Nam ta có tục thờ Mẫu. 
 
Ngày xưa, khi làm cơm tiễn ông Công, ông Táo, các cụ dùng cá chép rán, cá chép kho chứ không phóng sinh cá chép sống ra sông, không dùng cá chép giấy như bây giờ. Không hiểu từ bao giờ, tục dùng cá chép kho, cá chép rán trở thành tục dùng cá chép sống và cá chép giấy?

Việc tại sao dùng cá chép mà không dùng cá khác thì có thể là vì cá chép có thể hoá rồng mang Táo quân về Trời hanh thông??? Hoặc do cá chép là "Lý Ngư" tiếng Hán, đọc chệch đi là "Lý Dư" - Đầy đủ, dư thừa lẽ phải. Qua món cá chép, có thể người nông dân Bắc bộ xưa vốn quanh năm nghèo đói, mong được đầy đủ hơn. Thế nên, trong việc lễ cúng ông Công, ông Táo, ngoài cá chép ra, tất cả các món cá khác đều không có ý nghĩa.

Ngày xưa, có nơi sau khi tiễn ông Công, ông Táo về Trời, người ta lại làm các ông đầu rau mới và thả các ông đầu rau cũ xuống ao. Giờ có lẽ tập tục này không còn nữa.   

Cũng nghe, tục thờ Táo quân, hay Thần bếp có thể liên quan đến việc thờ thần lửa, một phong tục có từ lâu đời ở nhiều dân tộc trên Thế giới, nhưng thể hiện khác nhau.

Rõ ràng, chỉ qua mỗi lễ tiễn ông Công, ông Táo lên Trời lúc năm hết, Tết đến, cũng có thể học được nhiều điều thú vị.

Năm tới, vào ngày tiễn ông Công, ông Táo, mong mọi người sẽ cúng cá chép kho, cá chép rán thay vì thả cá sống, hoá vàng cá giấy gây ô nhiễm môi trường. 




Hai mẹ con thả cá, tiễn ông Táo về trời - Ảnh sưu tầm từ Internet


Bình luận
Thứ năm, ngày 21/9/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Hồn quê
Miền Bắc
Miền Trung
Miền Nam
Các miền đất khác
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait