VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Tập bơi cho trẻ sơ sinh ở Việt Nam
Việt phủ Thành Chương (3) - Suy ngẫm
"Động não trước, động thủ sau"
Bài dich 27 - Tiểu sử Thống đốc Palin
A cow grazing
Signs
Số lượt truy cập
4260716
Số người đang xem
45


VĂN HOÁ > TaLaWho? - Ta là Tao! > Góc Bạn bè >


Yên nghỉ trong giấc ngủ của đất






Ảnh: Phạm Trọc (Tư liệu gia đình)


Bài viết tưởng nhớ ông Lê Văn Giạng


Cho đến cuối năm 2008, Ông vẫn thường xuyên đọc tài liệu và viết bài báo kiến nghị về giáo dục. Những tháng cuối đời, mắt kém quá không tự viết được, thì Ông trả lời phỏng vấn cho phóng viên viết lại để kiến nghị. Ông luôn trăn trở với sự nghiệp giáo dục và khoa học của nước nhà, và có lẽ ở tận nơi suối vàng Ông vẫn còn trăn trở, lo lắng cho sự suy đồi của nền giáo dục.

Khi còn đương chức ở Bộ Đại Học, thì Ông là người luôn liêm khiết và cương trực. Cương trực đến mức bị “anh trên” ghét vì không chịu giải quyết “ưu tiên” một số trường hợp “con em” không đủ điểm. Ông thuộc loại sĩ phu, không quan tâm đến danh vọng hay lợi riêng, mà luôn luôn chỉ nghĩ làm sao đóng góp được nhiều cho xã hội. Bởi vậy tuy làm “quan” lâu năm, nhưng tài sản vật chất có thể coi là không có gì, ngoài một căn hộ cũ kỹ khiêm tốn do nhà nước phân, trong khi những người “ngang hàng” Ông hầu hết đều có “biệt thự nghi ngút”. Ông sống rất giản dị, giản dị đến mức hơi “lập dị”, “ống bơ chụp đèn”. Đèn bàn làm việc của Ông là do Ông sáng chế, với ống bơ làm chụp đèn. Và khi cái đài Liên Xô cũ bị hỏng, thì Ông sửa theo “kỹ thuật Thổ Nhĩ Kỳ” chứ không chịu mua đài mới.

Ông là người uyên bác, từ nhỏ đã thông thạo chữ Nho (theo truyền thống gia đình) và tiếng Pháp (có thời ông làm chủ bút một tờ báo tiếng Pháp của sinh viên Việt Nam), và về sau còn biết thêm nhiều ngoại ngữ khác, như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức. Ông rất đam mê khoa học, đọc rất nhiều sách về khoa học. Nếu như bối cảnh thời cuộc diễn ra khác đi, thì có khi ông đã trở thành một nhà khoa học lớn. Loại sách thứ hai mà ông đọc nhiều là sách về giáo dục. Ông rất tâm đắc với những quyển sách viết sâu sắc, ví dụ như quyển “La philosophie de l’éducation” của Olivier Reboul mà ông gửi mua từ Pháp về (đây là một quyển sách nổi tiếng ở Pháp, tái bản cả chục lần, nhưng ở Việt Nam ngay trong ngành giáo dục chắc cũng hiếm ai biết đến).

Ông là một người luôn bình thản và có nghị lực phi thường. Một tuần trước ngày mất, thận của Ông đã ngừng làm việc, và độ u rê trong máu đã lên trên 1000. Theo bác sĩ nói, người thường khi nồng độ u rê cao như vậy là hôn mê. Nhưng cho đến hôm cuối cùng, Ông vẫn rất tỉnh táo, nhận ra mọi người, kể cả bạn của con đến thăm, vẫn nói được, tuy giọng nói yếu đi nhanh. Tuần cuối cùng là tuần Ông sống bằng lý trí, để đợi con cháu về. Ông có ba con gái, thì hai sống ở châu Âu, mấy cháu ngoại ở bên đó, và một cậu cháu đi học ở Mỹ. Đến hôm thứ ba 10/02/2009 thì Ông đã gặp lại được đầy đủ các con và một số cháu (còn 3 đứa cháu không về được). Đến lúc đó Ông đã hoàn toàn mãn nguyện, và nói “bây giờ các con đưa bố đi công viên vĩnh hằng”. Có lẽ do tập luyện yoga & ý chí của sĩ phu, nên ông luôn giữ được bình thản đến phút cuối.






Ảnh: Phạm Trọc (Tư liệu gia đình)


Ông đã chuẩn bị cho cuộc ra đi này từ trước, và đã viết sẵn di chúc, cũng như viết lại một số kỷ niệm riêng để kể cho con cháu. Khi trở bệnh lại vào tháng 01/2009, Ông đã linh cảm là lần này mình sẽ không qua khỏi, và nhất quyết không chịu vào bệnh viện. Ông muốn được ra đi khi đầu óc còn tỉnh táo. Ông nói đời Ông đã mãn nguyện, Ông đã sống trọn vẹn cuộc đời và làm được những cái ông cần làm. Trước khi ra đi, Ông có dặn dò vợ và các con cháu từng người một, và gửi lời chào đến những người thân quen. Con cháu ông đều nên người (ba con gái đều là tiến sĩ, và sáu cháu đều tốt), và có lẽ đó là “gia sản” lớn nhất của Ông. Tôi là con rể Ông, nên cũng được Ông dặn dò. Tuy là rể, nhưng có lẽ cũng là người nối nghiệp Ông trong nhà, vì cũng làm về khoa học và giáo dục. Khi Ông mất, tôi có “thừa hưởng” một số sách về giáo dục trong kho sách của Ông, và nguyện sẽ cố gắng tiếp tục sự nghiệp của Ông.

Tuần cuối cùng, Ông không đi lại được mà chỉ nằm một chỗ, nhưng vẫn nói chuyện được. Các con ông hay ở bên cạnh Ông, nói chuyện cho Ông vui và quên đi đau đớn về thể xác những lúc Ông tỉnh ngủ. Thỉnh thoảng còn “trêu ghẹo” Ông, và Ông cũng hài hước lại. Một lần, con cháu mời Ông uống chút rượu Cognac cho dịu thần kinh. Ông bảo “rượu ngon phải có bạn hiền”, nhưng rồi Ông uống và khen “ngon quá, cả đời Ông giờ mới được uống rượu đó lần đầu”. Và Ông còn đòi uống thêm. Sau đó ông ngâm nga bài thơ “Lương Châu Từ” (凉州词) của Vương Hàn (王翰):

凉州词

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

(Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi)

Đôi lúc, Ông lại thì thào câu thơ “Laissez-moi m’endormir du sommeil de la terre” (trong bài thơ “Moise” của nhà thơ Alfred de Vigny người Pháp viết năm 1822) với con gái. Câu thơ đó có nghĩa “Hãy cho tôi ngủ yên trong giấc ngủ của đất”. Trong bài thơ này, Moise, vua của người Do Thái, sau khi đã đưa dân tộc Do Thái “thoát hiểm” và đã thấy mệt mỏi, xin Chúa cho được “ngủ yên”. Ông cũng vậy, đã gánh vác nhiều thứ, đã sống trọn cuộc đời, và đến lúc ông muốn được “ngủ yên”.

Tuy Ông Bà không hề “mê tín”, nhưng ở nhà cũng có đi xem “ngày tháng”. Xem theo tử vi ta không được chính xác, vì không ai biết giờ sinh, chỉ biết ngày sinh. Tôi không biết xem tử vi ta, nhưng cũng lọ mọ giở tử vi tây (Astrology) ra xem. Theo “sách bảo” thì vị trí tương đối của Mặt Trăng so với “natal chart” đánh dấu ngày giờ các sự kiện (để biết năm / tháng xảy ra sự kiện quan trọng, thì cần xem các sao khác, nhưng để xem đến ngày giờ thì chủ yếu xem mặt trăng), và tôi dựa vào lý thuyết đó tính ra hai thời điểm “có thể ra đi”. Và Ông đã ra đi vào thời điểm thứ hai. Horoscope của thời điểm Ông ra đi cho thấy Ông ra đi một cách êm đẹp, trong tình yêu thương của mọi người, để lại phúc đức lâu bền cho con cháu.

Đám tang của ông được gia đình cùng với Bộ GD-ĐT tổ chức chu đáo. Có rất nhiều người đến dự, từ bạn bè, thân quyến, cho đến cơ quan đoàn thể, quan chức Chính phủ. Ông được rất nhiều người quí mến kính trọng, vì Ông luôn cố đem lại điều tốt cho mọi người, mà chẳng bao giờ vụ lợi. Ông được đưa về chôn cất trong một ngôi mộ kiên cố tại Công Viên Vĩnh Hằng (Ba Vì) nằm trên một quả đồi rất đẹp, đúng theo nguyện vọng. Cầu chúc cho Ông được yên nghỉ trong giấc ngủ của Đất!

Nguyễn Tiến Dũng

Bài thơ “Moise” (của nhà thơ người Pháp, viết năm 1822), với câu thơ nổi tiếng “hãy cho tôi ngủ giấc ngủ của đất”):

Moïse

Le soleil prolongeait sur la cime des tentes
Ces obliques rayons, ces flammes éclatantes,
Ces larges traces d’or qu’il laisse dans les airs,
Lorsqu’en un lit de sable il se couche aux déserts.
La pourpre et l’or semblaient revêtir la campagne.
Du stérile Nébo gravissant la montagne,
Moïse, homme de Dieu, s’arrête, et, sans orgueil,
Sur le vaste horizon promène un long coup d’œil.
Il voit d’abord Phasga , que des figuiers entourent ;
Puis, au-delà des monts que ses regards parcourent,
S’étend tout Galaad, Éphraïm, Manassé,
Dont le pays fertile à sa droite est placé ;
Vers le midi, Juda, grand et stérile, étale
Ses sables où s’endort la mer occidentale ;
Plus loin, dans un vallon que le soir a pâli,
Couronné d’oliviers, se montre Nephtali ;
Dans des plaines de fleurs magnifiques et calmes
Jéricho s’aperçoit : c’est la ville des palmes ;
Et, prolongeant ses bois, des plaines de Phogor,
Le lentisque touffu s’étend jusqu’à Ségor.
Il voit tout Chanaan, et la terre promise,
Où sa tombe, il le sait, ne sera point admise.
Il voit ; sur les Hébreux étend sa grande main,
Puis vers le haut du mont il reprend son chemin.

Or, des champs de Moab couvrant la vaste enceinte,
Pressés au large pied de la montagne sainte,
Les enfants d’Israël s’agitaient au vallon
Comme les blés épais, qu’agite l’aquilon.
Dès l’heure où la rosée humecte l’or des sables
Et balance sa perle au sommet des érables,
Prophète centenaire, environné d’honneur,
Moïse était parti pour trouver le Seigneur.
On le suivait des yeux aux flammes de sa tête,
Et, lorsque du grand mont il atteignit le faîte,
Lorsque son front perça le nuage de Dieu
Qui couronnait d’éclairs la cime du haut lieu
L’encens brûla partout sur les autels de pierre.
Et six cent mille Hébreux, courbés dans la poussière,
A l’ombre du parfum par le soleil doré,
Chantèrent d’une voix le cantique sacré ;
Et les fils de Lévi, s’élevant de la foule,
Tels qu’un bois de cyprès sur le sable qui roule,
Du peuple avec la harpe accompagnant les voix,
Dirigeaient vers le ciel l’hymne du Roi des Rois.

Et, debout devant Dieu, Moïse ayant pris place,
Dans le nuage obscur lui parlait face à face.

Il disait au Seigneur : ” Ne finirai-je pas ?
Où voulez-vous encor que je porte mes pas ?
Je vivrai donc toujours puissant et solitaire ?
Laissez-moi m’endormir du sommeil de la terre.
Que vous ai-je donc fait pour être votre élu ?
J’ai conduit votre peuple où vous avez voulu.
Voilà que son pied touche à la terre promise.
De vous à lui qu’un autre accepte l’entremise,
Au coursier d’Israël qu’il attache le frein ;
Je lui lègue mon livre et la verge d’airain.

Pourquoi vous fallut-il tarir mes espérances,
Ne pas me laisser homme avec mes ignorances,
Puisque du mont Horeb jusques au mont Nébo
Je n’ai pas pu trouver le lieu de mon tombeau ?
Hélas ! vous m’avez fait sage parmi les sages !
Mon doigt du peuple errant a guidé les passages.
J’ai fait pleuvoir le feu sur la tête des rois ;
L’avenir à genoux adorera mes lois ;
Des tombes des humains j’ouvre la plus antique,
La mort trouve à ma voix une voix prophétique ;
Je suis très grand, mes pieds sont sur les nations,
Ma main fait et défait les générations.
Hélas! je suis, Seigneur, puissant et solitaire,
Laissez-moi m’endormir du sommeil de la terre!

Hélas ! je sais aussi tous les secrets des Cieux ;
Et vous m’avez prêté la force de vos yeux.
Je commande à la nuit de déchirer ses voiles ;
Ma bouche par leur nom a compté les étoiles,
Et dès qu’au firmament mon geste l’appela,
Chacune s’est hâtée en disant : ” Me voilà “.
J’impose mes deux mains sur le front des nuages
Pour tarir dans leurs flancs la source des orages ;
J’engloutis les cités sous les sables mouvants ;
Je renverse les monts sous les ailes des vents ;
Mon pied infatigable est plus fort que l’espace ;
Le fleuve aux grandes eaux se range quand je passe,
Et la voix de la mer se tait devant ma Voix.
Lorsque mon peuple souffre, ou qu’il lui faut des lois,
J’élève mes regards, votre esprit me visite ;
La terre alors chancelle et le soleil hésite,
Vos anges sont jaloux et m’admirent entre eux.
Et cependant, Seigneur, je ne suis pas heureux ;
Vous m’avez fait vieillir puissant et solitaire,
Laissez-moi m’endormir du sommeil de la terre.

Sitôt que votre souffle a rempli le berger,
Les hommes se sont dit : ” Il nous est étranger ”
Et leurs yeux se baissaient devant mes yeux de flamme,
Car ils venaient, hélas ! d’y voir plus que mon âme.
J’ai vu l’amour s’éteindre et l’amitié tarir ;
Les vierges se voilaient et craignaient de mourir.
M’enveloppant alors de la colonne noire,
J’ai marché devant tous, triste et seul dans ma gloire,
Et j’ai dit dans mon cœur : ” Que vouloir à présent ? ”
Pour dormir sur un sein mon front est trop pesant,
Ma main laisse l’effroi sur la main qu’elle touche,
L’orage est dans ma voix, l’éclair est sur ma bouche ;
Aussi, loin de m’aimer, voilà qu’ils tremblent tous,
Et, quand j’ouvre les bras, on tombe à mes genoux
0 Seigneur ! j’ai vécu puissant et solitaire,
Laissez-moi m’endormir du sommeil de la terre! “

Or, le peuple attendait, et, craignant son courroux,
Priait sans regarder le mont du Dieux jaloux ;
Car, s’il levait les yeux, les flancs noirs du nuage
Roulaient et redoublaient les foudres de l’orage,
Et le feu des éclairs, aveuglant les regards,
Enchaînait tous les fronts courbés de toutes parts.
Bientôt le haut du mont reparut sans Moïse.
Il fut pleuré. - Marchant vers la terre promise,
Josué s’avançait pensif et pâlissant,
Car il était déjà l’élu du Tout-Puissant.

 
“Lương Châu Từ”

凉州词
葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

(Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi)

Dịch nghĩa

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

Dịch thơ

Bồ đào rượu ngát chén lưu ly
Toan nhắp tỳ bà đã giục đi
Say khướt sa trường anh chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
(Trần Quang Trân)

Rượu bồ - đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu
(Trần Trọng San)

Rượu ngon, ly cốc ngời ngời
Chưa chi đã giục "Chàng ơi lên đường!"
Đừng cười gã sỉn nằm sương
Mấy ai chiến đấu còn đường rút lui.
(Hoàng Đình Quang)
 
 
 
 
Bình luận
Ý kiến bạn đọc:
Linh Phan, tieungnhi2489@yahoo.com, 23/03/2009 16:47:37
Chưa từng được gặp trực tiếp Cụ bao giờ nhưng qua lời kể của mọi người cháu thực sự khâm phục nhân cách và ý chí của cụ. Cụ là một nhân cách lớn, một nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Hãy ngủ một giấc ngủ thật sâu, thật đẹp với đất Cụ nhé!
Thứ sáu, ngày 15/12/2017
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Lẩm & Lẩn
Góc Bạn bè
Đãi chữ - Đãi sách
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait